Chúa Nhật 19 Thường Niên – Lạy Thầy Xin Cứu Con !

Có nhiều lúc cuộc sống trở nên gánh nặng khủng khiếp. Chân trời dường như bị bít kín. Quá thất vọng, người ta có cảm giác như bị nhấn chìm sâu trong vực thẳm. Thế rồi đột nhiên, một ân nhân xuất hiện, và bất ngờ người ta tìm lại được lại niềm hi vọng, khám phá ra một cách để thoát khỏi ngõ cụt. Người tín hữu gặp khó khăn cũng như thế, mỗi lần quay về với Chúa, và tái khám phá sự Hiện diện thành tín của Ngài. Bấy giờ, người ta cảm thấy như được sống lại và tìm lại sự can đảm và niềm tin tưởng đã mất.

Sách 1 Vua 19, 9a.11-13a

Vào thời tiên tri Êlia, đức tin dường như biến mất khỏi Vương quốc Israên và Tiên tri thất vọng đến nỗi muốn chết. Nhưng rồi được Chúa nâng đỡ, ông tiếp tục cuộc hành trình đến núi Sinai, nơi Thiên Chúa tỏ mình cho ông Mô sê. Ông đối diện với Chúa như Mô sê ngày xưa. Ông tìm lại được can đảm, tiếp tục sứ mạng mặc dù nhà vua vẫn tìm cách chống lại ông.

Thánh vịnh 84

Ngày xưa, Thiên Chúa đã dẫn dân của Người ra khỏi đất lưu đày khi mà họ dường như sắp bị biến mất. Chỉ cần Người làm cho họ hoàn toàn quay về với Người thì thời đại vàng son mà ai cũng mong ước sẽ trờ lại trần gian. Sẽ xảy ra chuyện gì nếu tất cả mọi người trên trần gian hành động theo Thánh ý của Thiên Chúa.

Thư Rôma 9, 1-5

Phao lô là người gốc do thái và chịu đau khổ nhiều khi thấy đồng bào của mình khước từ Đức Ki tô đấng Cứu độ trong khi người ngọai lại thành tâm tin nhận. Đức tin rất mạnh mẽ của ngài khiến ngài tin tưởng sâu xa rằng một ngày nào đó Thiên Chúa sẽ hướng lòng họ quay trở lại với tình yêu của Ngài.

Mt 14: 22-33

NGỮ CẢNH

Đoạn nầy tiếp nối đoạn Tin mừng tuần trước: sau khi hoá bánh nuôi đám đông, Chúa Giê su giải tán họ và lánh riêng lên núi cầu nguyện. Các môn đệ xuống thuyền vượt biển qua bờ bên kia. Và sau đó họ đã được ban cho một cơ hội tốt để kinh nghiệm thế nào là tin vào Chúa Giê su. Ở đây cũng như trong trình thuật trước, các môn đệ ở một mình và thiếu thốn đủ mọi thứ, thiếu cả Thầy mình. Họ đã đứng trước đám đông đang lâm vào bước đường cùng. Bây giờ lênh đênh trên mặt nước, họ lâm vào cảnh ngặt nghèo, và chỉ vào giây phút cuối cùng bằng một hành động đầy quyền uy, Chúa Giê su mới ra tay cứu giúp. Trong cả hai trường hợp, Mt cho thấy thế nào thân phận của người môn đệ: luôn bị giằng co giữa sợ hãi và tin tưởng, luôn luôn bị đe doạ bởi những nghi ngờ. Nhưng qua lời cầu cứu, họ đã chiến thắng nỗi sợ hãi và nghi ngờ nhờ vào sự trợ giúp của Chúa Giê su.

Biến cố đi trên mặt biển trả lời cho câu hỏi về căn tính của Chúa Giê su và minh hoạ về quyền năng thần linh của Ngài như là Con Thiên Chúa. Đồng thời cũng cho thấy lời tuyên xưng các môn đệ sẽ đưa tới lời tuyên tín của Phê rô (16,13-20).

Có thể đọc đoạn tin mừng theo bố cục sau đây:

1.Hoàn cảnh của các môn đệ trên biển (14,22-24)

2.Chúa Giê su đi trên mặt biển (14,25-27)

3.Chúa Giê su ra tay dùng quyền phép cứu ông Phê rô (14,28-31).

TÌM HIỂU

Chúa Giê su liền bắt các môn đệ: một kiểu nói lạ lùng. Tại sao Chúa Giê su phải ép các môn đệ ra đi? Vì họ không muốn để Ngài một mình trong đêm vắng? Hay vì Ngài sợ họ cũng bị phấn khích như đám đông đòi tôn Ngài làm vua sau khi đã chứng kiến phép lạ Ngài làm ?

Chiếc thuyền đã ra xa bờ biển đến cả mấy cây số: xa mấy dặm: một dặm dài khoảng 185 mét. Bản khác ghi: chiếc thuyền ra giữa biển. Hồ nầy rộng khoảng 12 km.

Chiếc thuyền bị sóng đánh vì ngược gió”: Trong khi Mc chú ý đến những người chèo thuyền vất vả vì ngược gió (Mc 6,48), thì Mt chú ý đến chiếc thuyền. Mt muốn nói về chiếc thuyền như là một biểu tượng chỉ Giáo hội. Trong câu 33 cũng thế, Mt nói: “Những kẻ ở trong thuyền..” thay vì nói: các môn đệ.

Vào khoảng canh tư, Ngài đi trên mặt biển đến cùng họ: Canh tư là khoảng thời gian từ 3-6 giờ sáng. CƯ cũng có nhiều đoạn dùng kiểu ẩn dụ để nói Thiên Chúa đi trên mặt biển như G 9,8; 38,16; Tv 77,20; Hb 3,15; Hc 24,5. Do đó có sự song song giữa Chúa Giê su và Thiên Chúa. Điều nầy chứng tỏ rằng Chúa Giê su có quyền lực thần linh tuyệt đối và quyền lực ấy là để cứu vớt các môn đệ.

Chính Thầy đây: Chúa Giê su nói lời nầy để trấn an các môn đệ vì họ tưởng gặp ma. Ngoài ra ở đây Thiên Chúa tỏ mình ra qua việc thi thố một quyền năng siêu phàm trên thiên nhiên. Cũng như Thiên Chúa trong CƯ thường dùng kiểu nói ‘Chính là Ta’ hay ‘Ta Là’ để tự mạc khải (St 17,1; 26,24; 28,13; 35,11; 46,3; Xh 3,6.14). Mt muốn kín đáo nhấn mạnh đến sự tương hợp giữa Chúa Giê su và Thiên Chúa.

Ông Phê rô đi trên mặt nước đến cùng Chúa Giê su: Trong Thánh Kinh, biển cả ẩn chứa quyền lực ma quỉ, thù nghịch với Thiên Chúa, và là nơi ở của kẻ chết. Do đó đi trên biển có nghĩa chế ngự và chiến thắng ma quỉ.

Người môn đệ được một quyền lực thần thiêng như Thầy, đó là chi tiết làm nổi bật hơn nữa ý nghĩa giáo hội học của đoạn văn. Trong Mt, Chúa Giê su chia sẻ quyền tha tội cho các môn đệ (9,6; 16,19;18,18). Tuy nhiên, Phêrô chỉ đi được trên mặt nước nhờ có đức tin, vì đối với người có lòng tin, thì “chẳng có gì mà không làm được” (17,20).

Thưa Ngài, xin cứu con!: Như tiếng kêu của những người đi đò gặp cơn bảo tố (8,24), tiếng kêu của ông Phêrô là âm vang của nhiều lời khẩn cầu của các tín hữu cầu xin Thiên Chúa đến giúp mình khỏi luồn nước đang đe doạ (Tv 69,2.15; 144,7). Vì thế đây là lời cầu nguyện nói lên niềm tin vào Chúa Giê su dù với chút ít nghi ngờ.

Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!: Như các chỗ khác trong Tin mừng, lời tuyên tín nầy không phải là sự nhìn nhận Chúa Giê su là Con Một của Thiên Chúa, mà chỉ có nghĩa “Chúa Giê su là đấng Thiên sai của Thiên Chúa”. Sau đó, có thể cộng đoàn ki tô thời Mt đã lặp lại lời tuyên xưng nầy với đầy đủ ý nghĩa nghĩa là tuyên xưng Chúa Giê su chính là Con một Thiên Chúa.

Những kẻ ở trong thuyền: nghĩa là những tín hữu trong Giáo hội, theo gương Phêrô và các môn đệ, tuyên xưng Chúa Giê su là Con một Thiên Chúa. Hoạt cảnh nầy (32-33) giới thiệu Giáo Hội mới của Chúa Ki tô, đã vượt thắng thử thách, nay vây quanh Đức Ki tô, Chúa tể của họ.

SỨ ĐIỆP

Bài Tin mừng hôm nay tiếp nối bài Tin mừng tuần trước. Chúa Giê su vừa hoá bánh ra nhiều cho đám đông đang đói được ăn no nê. Sau phép lạ ấy, Chúa Giê su lui vào nơi thanh vắng. Ngài không muốn trở thành một ngôi sao hoặc một siêu nhân của đám đông, vì Ngài thoáng thấy đám người phấn khích ấy sắp tôn Ngài làm lãnh tụ, phất cờ tập họp mọi người giải phóng đất nước Palestina khỏi ách thống trị của người La mã. Đó không phải là mục tiêu mà Ngài tìm kiếm bởi vì Nước của Ngài không thuộc thế gian nầy. Đối với Ngài, điều quan trọng nhất là được hiệp thông hoàn toàn với Cha. Sau một ngày đầy bận rộn với đám đông nghèo khổ cần đủ mọi thứ, Ngài rút lui lên núi để cầu nguyện thân mật với Thiên Chúa Cha.

Chúng ta cũng thế, đôi khi cần sự yên tĩnh, thinh lặng, hồi tâm sau những giờ phút căng thẳng. Trong thế giới ồn ào náo nhiệt hôm nay, càng lúc càng có nhiều người thích và đi tìm bầu khí tĩnh lặng. Sự phát triển của các cộng đoàn tu sĩ càng lúc càng lôi kéo sự chú ý của mọi người. Người ta cảm thấy cần rời xa thế giới huyên náo để tâm hồn lấy lại sự bình an: “Trong khi cầu nguyện, người ki tô hữu cần có một khoảng cách đối với cuộc sống hằng ngày, ngõ hầu khám phá ra những lời mời gọi của Thiên Chúa, và thấy rõ hơn những dấn thân mà mình cần phải có” (Đ C Robert Coffy).

Phải, chúng ta cần dừng lại để có thời giờ cầu nguyện cho thế giới, cho gia đình chúng ta, và cho tất cả những người mà chúng ta gặp trên đường đời. Như Chúa Giê su và cùng với Ngài, chúng ta có thể phó thác cho Thiên Chúa Cha niềm vui, hi vọng và đau khổ của thế giới. Tuy nhiên phải chú ý đến điều làm nên kinh nguyện thật sự khác hẳn với kinh nguyện giả tạo. Nhiều khi chúng ta để mình bị cuốn hút theo tính kiêu căng tự phụ, và quên rằng cầu nguyện không phải là giây phút làm hài lòng mình. Đó không phải là một cố gắng của ý chí chúng ta, nhưng là phút giây đón nhận Chúa Giê su gõ cửa tâm hồn mình. Như Đức Gioan Phao lô II đã nói, cầu nguyện là lúc để cho Chúa Giê su cầu nguyện trong chúng ta.

Bài tin mừng hôm nay cũng nói với chúng ta về ích lợi của lời cầu nguyện khi mọi sự chung quanh dường như bị thất bại. Dù là những tay đánh cá chuyên nghiệp dạn dày với mưa to sóng lớn, các môn đệ trên thuyền bị gió bão quất mạnh liên hồi tưởng không còn cơ hội sống sót. Trong cơn nguy khốn ấy, bất ngờ họ thấy có bóng người đang lướt trên mặt nước đến với họ. Dĩ nhiên Chúa Giê su không muốn tìm cách làm cho các môn đồ hoảng sợ. Điều Ngài muốn là tỏ cho các ông biết Ngài là ai. Trong cách hiểu của người đương thời, biển gợi lên thế giới thù nghịch và những con quái vật đối đầu với Thiên Chúa. Vì thế, khi lướt đi trên mặt biển, Ngài muốn khẳng định rằng Ngài chính là Thiên Chúa thống trị các mãnh lực sự dữ. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan loan báo sẽ không còn biển nữa. Điều đó có nghĩa là các mãnh lực sự dữ cuối cùng sẽ bị quyền năng của Chúa Giê su tiêu diệt.

Thánh Mát thêu kể lại câu truyện nầy là muốn giúp những người ki tô hữu trong cộng đoàn Ngài đang bị thử thách hiểu rằng họ chính là những người trong con thuyền đang bị bão táp. Và cũng như các môn đệ ngày xưa, họ hốt hoảng kêu la vì thấy con thuyền sắp chìm. Nhưng vào chính lúc quyết định ấy, Chúa Giê su đã tiến đến. Ngài đến gặp các môn đệ, nhưng họ lại không nhận ra Ngài, lại tưởng rằng đang gặp ma. Khi tất cả mọi sự trở nên tuyệt vọng, đến nỗi không còn tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống và giữa những thử thách của chúng ta nữa. Nhưng tin mừng vẫn còn đó để nhắc chúng ta nhớ rằng Chúa Giê su luôn hiện diện để trấn an, ban cho chúng ta can đảm và hi vọng mà chúng ta đã đánh mất. Phê rô đã xin và được phép nhảy xuống nước và lướt trên mặt biển như Chúa Giê su trên các mãnh lực sự dữ. Nhưng chỉ được một khoảnh khắc, ông hoảng sợ. Bấy giờ sự dữ đã lấy lại quyền lực của nó trên ông và cuối cùng nhận chìm ông xuống biển. Ở đây cũng vậy, chính sự sợ hãi đã khiến ông cầu cứu: “Lạy Chúa, xin cứu con!”.

Cũng như Phê rô, nhiều lúc chúng ta cũng phải biết nhảy xuống nước, cả khi đức tin của chúng ta như đức tin của Phê rô dường như không còn đứng vững. Có những ngày chúng ta không còn tha thiết cầu nguyện; ước gì khi ấy, chúng ta hãy khẩn khoản cầu xin Ngài cứu vớt chúng ta. Ngài sẽ lên tiếng trấn an: “Hãy tin tưởng lên, chính Ta đây, đừng sợ”. Và sẽ cho phép chúng ta đi trên mặt biển đến với Ngài, nghĩa là thực hiện điều không thể.

 “Đừng sợ”, Đức Gioan Phao lô II đã nói như thế khi bắt đầu sứ vụ cầm lái con thuyền Hội thánh. Đó không phải là một lời mời gọi khoanh tay không làm gì cả và chờ đợi mọi sự từ Thiên Chúa. Trái lại, Ngài muốn nói với chúng ta: “Hãy đến!” Chúa là đấng chiến thắng trên sự dữ đòi chúng ta phải đầy tin tưởng tiến lên phía trước. Ngài ở với chúng ta trong mọi nỗi lo âu để không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài.

 

ĐÀO SÂU

THIÊN CHÚA TỎ HIỆN

1V 19,9a.11-13a Thiên Chúa tỏ mình cho tiên tri Ê-li-a

Tv 85,9 Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con tình yêu Chúa

Rm 9,1-5 Thánh Phao lô kể các đặc ân dành cho dân Ít-ra-ên

Mt 14,22-33 Đức Giê su truyền cho ông Phê-rô đi trên biển

 

1. HỎI: Các bài đọc được liên kết theo chủ đề gì?

THƯA: THIÊN CHÚA TỎ HIỆN. Thiên Chúa tỏ mình cho tiên tri Ê-li-a để củng cố lòng tin của ông (Bđ1). Đức Giê-su cũng hiện ra cho các môn đệ trên mặt biển (BTM).

2. HỎI: Bối cảnh lịch sử của bài đọc một (1V 19,9a.11-13a) như thế nào?

THƯA: Sau chiến thắng đám tiên tri bụt thần Ba-an trên núi Các-men, tiên tri Ê-li-a bị bà Hoàng hậu I-de-vên vợ Vua A-kháp truy sát (1V 17-19). Ông phải trốn chạy suốt 40 ngày đêm để cuối cùng đến núi Khô-rếp, nơi mà Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước với dân Ít-ra-ên. Mệt mõi và quá chán chường, Ê-li-a chỉ mong Thiên Chúa thần hiển uy quyền để bênh đỡ và củng cố ông như Ngài đã từng hiện ra với ông Mô-sê.

3. HỎI: Bài đọc một có nội dung như thế nào?

THƯA: Bài đọc một trích từ sách các Vua quyển thứ nhất kể lại việc Tiên tri Ê-li-a ẩn nấp trong hang chờ được Thiên Chúa cho nhìn thấy dung nhan của Người. Trong khi chờ đợi Người hiện ra trong cơn gió to bão lớn, sấm sét hay động đất, thì thật bất ngờ, Ê-li-a được nhìn thấy Người xuất hiện trong ngọn gió hiu hiu. Ông liền lấy tay che mặt vì sợ chết.

4. HỎI: Biến cố ấy mang lại cho Ê-li-a điều gì?

THƯA: Biến cố ấy mang lại cho ông sự thay đổi toàn diện. Trước kia, dù là một người đầy nhiệt thành bênh vực đức tin đến nỗi suýt mất mạng dưới tay bà Hoàng I-de-vên, ông có những hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa. Những mong được diện kiến một Thiên Chúa uy phong xuất hiện trong gió bão, cuồng phong, thì ông đã thấy một Thiên Chúa đầy dịu hiền trong luồng gió thoảng nhẹ.

5. HỎI: Như vậy đến thời Ê-li-a, mạc khải về Thiên Chúa đã thay đổi?

THƯA: Đúng thế. Vào thời Mô-sê, dân Chúa chưa sẵn sàng đặt niềm tin vào một vì Thiên Chúa không biểu dương quyền năng bằng những biến cố đáng sợ trong thiên nhiên (Xh 19). Còn vào thời Ê-li-a, Thiên Chúa đã cho thấy Người còn là Đấng Thiên Chúa đầy dịu dàng.

6. HỎI: Bài đọc hai (Rm 9,1-5) có nội dung như thế nào ?

THƯA: Tâm tình của Thánh Phao lô trước sự cứng lòng của đồng bào mình. Dù vậy, dựa vào các đặc ân Thiên Chúa dành cho dân, ông vẫn hi vọng một ngày kia toàn thể dân Ít-ra-ên sẽ trở lại.

7. HỎI: Ngữ cảnh bài tin mừng (Mt 14,22-33) như thế nào?

THƯA: Sau khi đã nuôi đám đông dân chúng (14,13-21), Đức Giê-su tỏ mình cho các môn đệ và đã cho ông Phê-rô đi trên biển (14,22-33) nhằm trả lời thắc mắc của mọi người về căn tính của mình. Có 4 ý chính: Hoàn cảnh các môn đệ trên biển (cc. 22-23); Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27); Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32); Kết luận (c. 33).

8. HỎI: Tại sao Đức Giê-su bắt các môn đệ xuống thuyền rời khỏi nơi ấy?

THƯA: Có lẽ vì hai lí do sau đây: trước hết, vì sự cấp bách của việc rao giảng. Ngài đã từng nói với Phê rô: “Chúng ta còn phải đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh để rao giảng tin mừng, chính vì thế mà tôi đã ra đi” (Mc 1,39). Nhưng lí do quyết định là vì Đức Giê-su phải chống lại cám đỗ của thành công sau phép lạ hóa bánh ra nhiều.

9. HỎI: Tại sao Đức Giê-su lên núi một mình và đến tối, Ngài vẫn ở đó một mình (Mt 14,23).

THƯA: Thánh Mát-thêu cho biết, Đức Giê-su lánh riêng một mình trên núi để cầu nguyện. Chắc chắn, mọi lúc trong cuộc sống Ngài vẫn thường xuyên liên lạc với Thiên Chúa Cha, nhưng có những lúc Ngài cần sự tĩnh lặng để tìm hướng đi dưới sự linh hứng của Thánh Thần.

10. HỎI: Theo sự mô tả của Thánh Mát-thêu (cc.23.33) thì con thuyền là hình ảnh chỉ điều gì?

THƯA: Con thuyền bị sóng đánh vì ngược gió là hình ảnh của Hội thánh chiến đấu giữa cơn sóng dữ trần gian. Sự hiện diện cứu độ của Đức Ki tô phục sinh giữa cơn bão táp mà Hội Thánh đang gặp đem lại niềm tin cho các tín hữu để họ tuyên xưng niềm tin vào Ngài: “Ngài thật là Con Thiên Chúa” (c 32).

11. HỎI: Biển trong Kinh Thánh có ý nghĩa gì?

THƯA: Trong Thánh Kinh, biển cả ẩn chứa quyền lực ma quỉ, thù nghịch với Thiên Chúa, và là nơi ở của kẻ chết. Do đó đi trên biển có nghĩa là chế ngự và chiến thắng ma quỉ.

12. HỎI: Đức Giê-su có ý gì khi nói với các môn đệ: “Chính là Ta”?

THƯA: Có 2 ý. Trước tiên, Đức Giê-su nói lời nầy để trấn an các môn đệ vì họ tưởng gặp ma. Ngoài ra cũng như trong CƯ Thiên Chúa thường dùng kiểu nói ‘Chính là Ta’ hay ‘Ta Là’ để tự mạc khải (St 17,1; 26,24; 28,13; 35,11; 46,3; Xh 3,6.14), ở đây, Đức Giê-su tỏ mình ra là Thiên Chúa, có quyền năng siêu phàm trên thiên nhiên.

13. HỎI: Khi cho ông Phê-rô đi trên mặt nước, Đức Giê-su có ý gì?

THƯA: Khi ban cho Phê-rô đi trên mặt nước, Đức Giê-su muốn chia sẻ quyền năng của mình cho các tông đồ là những người sẽ tiếp nối công việc của Ngài như trao cho các ông quyền tha tội (9,6).

14. HỎI: Có phải việc Đức Giê-su “đi trên mặt nước” hoàn thành lời sấm tiên tri về Đức Ki tô trong Cựu Ước không?

THƯA: Đúng. Đức Giê-su hoàn thành điều mà trong CƯ chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể làm được là chế ngự biển cả. Thật vậy, trong Kinh Thánh, nước là dấu chỉ những mãnh lực thù nghịch, đã bị Đức Ki tô khuất phục như trong công trình tạo dựng. Đức Ki tô là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa nguồn phát sinh Tạo thành và Lề luật, do đó có thể chế ngự được thiên nhiên. Đức Ki tô là Ađam thứ hai, không phá hủy Tạo thành, nhưng canh tân nó nhờ việc Nhập thể và Quyền năng của Thiên Chúa mà cả ma quỉ cũng phải thờ lạy.

15. HỎI: Ngay cả các môn đệ cũng có thể làm được như thế?

THƯA: Đúng, trong mức độ họ đặt trọn niềm tin vào Đức Giê-su và hành động dưới sự hướng dẫn của Đấng Phục sinh trong suốt cuộc đời trần thế.

16. HỎI: Ở đây, có phải tiếng vọng lại lời động viên của Đức Giê-su: “Can đảm lên, đừng sợ!

THƯA: Đúng thế. Đức Giê-su không đến trần gian để ban cho chúng ta những món quà rẻ tiền. Trái lại, Ngài đã cảnh giác chúng ta: cuộc đời có những thử thách, đau khổ và người ki tô hữu cũng không tránh kHỎI: Thiên Chúa ở gần chúng ta, nhất là trong những lúc cần thiết nhất. Vấn đề là chúng ta hãy luyện tập cặp mắt đức tin để biết nhìn thấy và mở rộng tâm hồn đón nhận sự hiện diện của Ngài trong mọi lúc. Với ông Ê-li-a chạy về núi Khô rép, Thiên Chúa đã hiện ra ngang qua một làn gió nhẹ chứ không trong những dấu chỉ vĩ đại mà trong CƯ thường dùng để mô tả các cuộc hiển linh của Thiên Chúa.

17. HỎI: Thánh Mát-thêu cho chúng ta thấy trải nghiệm của các tông đồ trước việc Đức Giê-su ‘đi trên mặt nước’ như thế nào?

THƯA: Trải nghiệm của các môn để được trình bày tuần tự qua qua năm hoạt cảnh nối tiếp nhau từ một biến cố duy nhất. Hoạt cảnh thứ nhất kể lại việc hóa bánh ra nhiều, sau đó Đức Giê-su cầu nguyện ban đêm. Lời cầu nguyện cho thấy mối tương quan giữa Ngài và Thiên Chúa Cha: tương quan tình yêu, ở trong nhau, cùng chung “sự sống” với Đấng là Chủ tể của sự sống. Hoạt cảnh thứ hai cho thấy chiếc thuyền của các môn đệ đang vất vả chèo chống trong cơn bão biển. Nhưng trong phép lạ khiến bảo táp yên lặng, Đức Giê-su đã ở với các ông trên con thuyền: tuy ngủ, nhưng Ngài vẫn hiện diện ở đó, nhưng ở đây thì Ngài vắng mặt. Hoạt cảnh thứ ba Đức Giê-su đi trên mặt nước đến cùng các môn đệ. Họ kêu la vì hoảng sợ và Đức Giê-su đã trấn an họ. Ở hoạt cảnh thứ tư, chúng ta thấy Thánh Phê rô, bao lâu còn tin vào quyền năng của Đức Giê-su, được Ngài chấp nhận cho đi trên mặt nước, nghĩa là được chia sẻ quyền Chủ tể trên mọi sự. Trong hoạt cảnh thứ năm, Đức Giê-su lên thuyền, sóng gió im lặng và các môn đệ tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa”.

18. HỎI: Đâu là trải nghiệm của các môn đệ trong câu chuyện nầy?

THƯA: Các môn đệ trải qua một trải nghiệm tiệm tiến về vị thầy Giê su mà họ tưởng là đã biết. Một thầy Giê su đã lánh riêng đi lên núi ban đêm, đi trên mặt nước, một thầy Giê su không thể thiếu vắng để chiếc thuyền (Giáo Hội) đến nơi phải đến. Đức Giê-su sai các môn đệ đi trước và Ngài đến sau. Dường như Ngài muốn có một chuyến đi âm thầm trong bóng đêm để giúp các môn đệ khám phá ra căn tính của người lạ “đầy quyền năng chế ngự thiên nhiên”. Nhưng chính khi Thiên Chúa dường như vắng mặt lại là lúc hiện diện nhiều hơn cả. Ê-li-a khám phá ra Ngài trong làn gió nhẹ, các môn đệ khám phá ra Ngài nơi Đức Giê-su trong cơn bão biển.

19. HỎI: Vậy như Ê-li-a và các tông đồ, cả chúng ta cũng có thể nhận ra sự hiện diện của Đức Giê-su một cách gần như hữu hình chứ?

THƯA: Chắc rồi, chỉ cần ngước nhìn lên và cầu khẩn, Đức Giê-su sẽ đến với chúng ta. Điều quan trọng là nhận ra Ngài, quì gối trước mặt Ngài và tuyên xưng lại niềm tin của chúng ta. 

20. HỎI: “Phép lạ” là gì?

THƯA: Phép lạ là một biến cố không thể giải thích được theo luật tự nhiên, nhưng phải được gán cho một sự can thiệp siêu nhiên và thần linh. Theo cách hiểu thông thường, người ta thường nhấn mạnh khía cạnh lạ lùng, ngoại thường của phép lạ, còn trong ngôn ngữ thần học, người ta thích coi đó là dấu chỉ.

21. HỎI: Trong ngôn ngữ Híp-ri, phép lạ được quan niệm ra sao?

THƯA: Trong ngôn ngữ Híp-ri, phép lạ được coi như là một dấu chỉ quyền năng và lòng nhân ái của Thiên Chúa đối với Dân ưu tuyển, đặc biệt xảy ra trong biến cố Xuất hành khỏi Ai cập. Trong Kinh Thánh có nhiều biến cố lạ lùng được coi như phép lạ. Đặc biệt cuộc Xuất hành khỏi Ai cập và Biển Đỏ khô cạn là hai biến cố biểu tượng cho mọi cuộc giải phóng Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử.

22. HỎI: Còn trong các sách Tin mừng thì sao?

THƯA: Trong các sách Tin mừng thì phép lạ được coi như là dấu chỉ Sứ mạng của Đức Ki tô, và tiếp sau đó là sứ mạng của các Tông đồ và môn đệ. Giáo lí của Giáo Hội nhìn nhận có phép lạ trong khung cảnh bao quát của Lịch sử Cứu độ như cần thiết đối với con người.

23. HỎI: Tại sao Đức Giê-su thực hiện các phép lạ?

THƯA: Ngài làm phép lạ không phải để chiêu dụ người ta theo mình, nhưng để thuyết phục dân chúng hiểu rằng Ngài hoàn thành các lời Thánh Kinh. Thật vậy, Đức Giê-su thường từ chối làm phép lạ khi Ngài nhận thấy tâm địa xấu xa của các người đối thoại. Đặc biệt trong việc Sa-tan thử thách trong sa mạc như là cao điểm. Hoặc khi phép lạ bị hiểu sai lạc, như sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Ngài lẫn trốn đám đông đang muốn tôn Ngài làm vua. Có nhiều lần Đức Giê-su buộc những người được hưởng phép lạ phải im lặng và không được nói cho ai biết. Chỉ có Thập giá là dấu chỉ khó chấp nhận nhưng đầy uy lực giúp người ta sám hối và tin vào Đức Giê-su.

24. HỎI: Các luật sĩ và Pha-ri-sêu tuy không tin vào Đức Giê-su, nhưng không bao giờ nghi ngờ về các pháp lạ của Ngài?

THƯA: Không, trừ ra dấu chỉ “Ngôi mộ trống”. Các phép lạ không bao giờ bị các nhà phê bình thời đó bác bỏ. Trong suốt suộc sống và sứ vụ của Đức Giê-su, không bao giờ Ngài bị tra hỏi là đã thực hiện các phép lạ không. Ngài chỉ bị chất vấn là làm thế nào mà Ngài có thể làm phép lạ. Họ muốn biết quyền năng và uy tín của Ngài bởi đâu ra (Mt 21,23). Hằng trăm người được chữa lành và các đối thủ của Ngài đã không thể bác bỏ. Ngày lễ Hiện xuống, gần hai tháng sau khi Đức Giê-su chịu đóng đinh, Simon Phê-rô nói với đám đông đang tụ họp rằng: “Thưa đồng bào Ít-ra-ên, xin nghe những lời sau đây. Đức Giê su Na gia rét là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mạng của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính em em biết điều đó” (Cv 2,22). Ở đây, ông Phê rô, đứng trước đám đông thù nghịch, khẳng định rằng chính nhiều người đã nhận biết các phép lạ Đức Giê-su. Rõ ràng việc Đức Giê-su thực hiện các phép lạ là điều không thể phủ nhận.

25. HỎI: Sứ điệp Lời Chúa như thế nào?

THƯA: 1. Thiên Chúa là Đấng muốn tỏ mình ra cho chúng ta trong những cảnh huống bình thường, giản dị chứ không phải trong những biến cố kinh thiên động địa. Chúng ta hãy sẵn sàng đón gặp Người.  2. Hoàn toàn tin cậy phó thác vào Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng có quyền năng trên tất cả vũ trụ vạn vật, kể cả thế lực ác thần và sự dữ. Tín thác vào Chúa khi được sống yên ổn, bình an cũng như khi chúng ta gặp đủ mọi thứ khó khăn, thử thách, bách bại, chống đối.

GLCG 448 208, 683 641. Trong các sách Tin Mừng, người ta thường gọi Đức Giê-su là “Chúa”. Danh hiệu này chứng tỏ rằng những kẻ đến gần Người đều tôn trọng và tin tưởng vào Người, mong đợi Người cứu giúp và chữa lành (x. Mt 8,2; 14,30;15,22). Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, khi tuyên xưng như vậy, người ta cũng nhìn nhận Đức Giê-su là Thiên Chúa (x. Lc 1,43; 2,11). Sau khi Đức Giê-su Phục sinh, cách tuyên xưng này diễn tả tâm tình thờ lạy: “Lạy Chúa của con! lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Và còn mang thêm sắc thái yêu thương trìu mến là nét riêng của truyền thống Ki-tô giáo, như khi Gio-an nói nhỏ với Phê-rô: “Chúa đó” (Ga 2l,7). 175. Đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, chúng ta phải ân cần gìn giữ. Ví như một kho tàng quí giá chứa đựng trong một bình quí dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa, đứctin luôn luôn tươi trẻ và làm tươitrẻ chính bình chứa là Hội Thánh (Ibid, 3,24,1).

Phục Vụ Lời ĐCV Xuân Lộc

Comments are closed.