Sứ Mạng Của Thánh Giuse Trong Cuộc Đời Chúa Kitô Và Hội Thánh

NHẬP ĐỀ

Có nhiều cách thức trình bày chân dung của Thánh Giuse, cũng tương tự như có nhiều cách thức trình bày Đức Maria. Những cuốn sách soạn để suy gẫm trong tháng ba dương lịch thường đề cao các nhân đức và phép lạ của thánh cả. Không thiếu tác phẩm được biên soạn dưới hình thức tiểu thuyết nhằm dựng lại cuộc đời gian truân của dưỡng phụ Đức Giêsu. Về phía thần học, người ta chú trọng đến tương quan giữa Thánh Giuse với Đức Mẹ (hôn nhân và khiết tịnh) hoặc so sánh đặc ân (Vô Nhiễm Nguyên Tội, Hồn Xác Lên Trời).[1]

Công Đồng Vatican II đã mở ra một hướng đi mới trong thần học về Đức Maria. Một đàng, thần học cần dựa trên các dữ kiện của mặc khải (Kinh Thánh và Thánh Truyền), chứ không thả hồn theo các giả thuyết; đàng khác, cần hướng đến vai trò của Đức Maria trong mầu nhiệm của Đức Kitô và của Hội Thánh. Chương VIII của Hiến chế tín lý về Hội Thánh đã được soạn theo chiều hướng đó. Từ sau Công Đồng, khoa Thánh-mẫu-học đã tiến triển rất nhiều, cách riêng do sự thúc đẩy của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tiếc rằng, những sách viết về Thánh Giuse theo phương pháp thần học vừa nói vẫn còn ít. Trong bài viết này, chúng tôi ước mong bổ túc phần nào sự thiếu sót đó, bằng cách trình bày vai trò của Thánh Giuse trong mầu nhiệm của Đức Kitô và của Hội Thánh, dựa theo Tông huấn Redemptoris Custos của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (ban hành ngày 15/8/1989). Hướng đi này giả thiết hai điều:

1/. Cần chú ý đến các dữ kiện của mặc khải, chứ không phải là các ngụy thư hay các mặc khải tư;

2/. Cần nêu bật vai trò của Thánh Giuse trong chương trình cứu độ: ơn gọi của Người là phục vụ Chúa Cứu Thế, và vì thế trở nên mẫu gương cho Hội Thánh trải qua mọi thời đại tiếp tục sứ mạng thông truyền hồng ân cứu độ.

Bài viết gồm ba chương:

– Chương Một: Thánh Giuse trong Kinh Thánh

Chúng ta sẽ tìm hiểu vai trò của Thánh Giuse dựa theo các sách Tin Mừng, đặc biệt là trong các đoạn văn? Tin Mừng thơ ấu “của Thánh Matthew và Luca”. Những đoạn văn này không chỉ liên quan đến Thánh Giuse mà thôi, nhưng còn liên quan đến Đức Maria nữa. Nói cách khác, việc tìm hiểu Thánh Giuse cũng giúp chúng ta hiểu biết hơn về Đức Maria, cũng như sự hợp tác của cả hai vị trong sứ mạng phục vụ Chúa Cứu Thế.

Ngoài ra, chúng ta cũng nên phân tích vài đoạn văn của Cựu Ước mà Hội Thánh tiên khởi và các Giáo phụ quen trưng dẫn để làm sáng tỏ vai trò của Thánh Giuse.

– Chương Hai: Thánh Giuse trong Truyền thống Hội Thánh

Tân Ước để lại cho chúng ta hình ảnh của Thánh Giuse như một con người thầm lặng: Người không nói một lời nào. Thánh Giuse vẫn tiếp tục giữ thinh lặng trong lịch sử Hội Thánh: đang khi phụng vụ đã phát triển lòng tôn kính các thánh tông đồ và tử đạo ngay từ những thế kỷ đầu tiên, thì mãi đến thế kỷ XVII lễ Thánh Giuse mới được cử hành trong toàn thể Giáo Hội. Lãnh vực thần học được phát triển sớm hơn, bởi vì Thánh Giuse đã được đề cập ngay từ thời các Giáo phụ và kinh viện, đặc biệt là Thánh Thomas Aquinas.

Từ cuối thế kỷ XIX, Thánh Giuse thường được nhắc đến trong các văn kiện Huấn quyền, được đánh dấu bằng Thông điệp Quamquam Pluries của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII(15/8/1889). Tông huấn Redemptoris Custos của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II(15/8/1989) muốn kỷ niệm biến cố đó, đồng thời cũng mở ra một hướng đi mới cho thần học về Thánh Giuse.

– Chương Ba: Suy tư thần học

Dựa theo chiều hướng của văn kiện vừa nói, chúng tôi sẽ bàn về hai điểm:

1/ Vai trò của Thánh Giuse trong cuộc đời của Đức Giêsu, như là kẻ giữ gìn Đấng Cứu Thế: Người là chứng nhân cho mầu nhiệm nhập thể và cho căn cước của Đức Giêsu. Điều này sẽ được chứng tỏ khi tìm hiểu tương quan của Thánh Giuse với Đức Giêsu và với Mẹ Maria.

2/ Vai trò của Thánh Giuse trong đời sống của Hội Thánh. Thánh Giuse đã phục vụ Đức Giêsu là đầu của Hội Thánh, và trở nên mẫu gương cho Hội Thánh trong việc phục vụ chương trình cứu độ. Tông huấn Redemptoris Custos đề cao vài nhân đức nổi bật nơi Thánh Giuse: đức tin; trung thành với bổn phận; thinh lặng chiêm niệm.

Sau những suy tư thần học, chúng tôi dành mục cuối cùng để tìm hiểu những hình thức phụng vụ và đạo đức dân gian dành để tôn kính Thánh Nhân.

***

CHƯƠNG MỘT

THÁNH GIUSE TRONG KINH THÁNH

Khi trình bày một nhân vật nào, người ta thường bắt đầu với một đoạn nói về tiểu sử, thân thế, sự nghiệp. Chúng ta biết gì về tiểu sử Thánh Giuse?

Xin trả lời là các nguồn sử liệu về Thánh Giuse rất hiếm. Thật ra, điều này không có gì lạ, bởi vì vào thế kỷ thứ nhất của Kitô giáo các nguồn sử liệu không được phong phú. Ngay cả khi muốn viết cuộc đời Đức Giêsu, các sử gia cũng thấy lúng túng khi muốn thu thập dữ liệu liên quan đến giai đoạn ẩn dật của Người, bởi vì các sách Tân Ước không cung cấp nhiều chi tiết. Sự khó khăn này càng gia tăng khi bước sang cuộc đời của các môn đệ của Chúa.

Riêng đối với Thánh Giuse, những tài liệu lịch sử chắc chắn là các sách Tin Mừng, đặc biệt là những chương đầu của Tin Mừng Thánh Matthew và Thánh Luca. Dù sao, khi so sánh với những tài liệu về Đức Maria, chúng ta nhận thấy rằng Đức Maria còn hiện diện trong giai đoạn hoạt động công khai của Đức Giêsu, và thậm chí sau khi Chúa Phục sinh và Lên trời; còn Thánh Giuse thì không được nhắc tới nữa sau khi tìm lại Đức Giêsu trong đền thờ lúc lên 12 tuổi.

Để bù đắp vào những lỗ hổng đó, trong các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, nhiều “Tin Mừng ngụy thư” ra đời, nhằm mô tả chi tiết về cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu, hoặc về gốc tích và việc tạ thế của Đức Mẹ và Thánh Giuse. Trước đây, các tài liệu này được sử dụng khá nhiều trong các bài giảng hoặc lưu truyền dân gian. Nhưng ngày nay, giá trị của chúng đã bị xét lại từ hai khía cạnh: lịch sử và thần học.

– Xét về khía cạnh lịch sử, các tài liệu đó phát sinh do óc tưởng tượng hơn là dựa theo dữ kiện khách quan.

– Xét về khía cạnh thần học, các tài liệu ấy ra đời do một quan niệm thiếu sót về chủ đích của các sách Tin Mừng. Thật vậy, các sách Tin Mừng không có ý định viết một tiểu sử về cuộc đời Đức Giêsu cho bằng “loan báo Tin Mừng”, nghĩa là công bố cho nhân loại biết hồng ân cứu độ mà Thiên Chúa ban qua lời giảng, hành động và cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Vì thế nếu ai muốn truy tầm nơi các sách Tin Mừng những tài liệu để viết tiểu sử Đức Giêsu thì sẽ thất vọng; tuy nhiên, nếu ai muốn tìm hiểu sứ điệp cứu độ thì sẽ thấy đủ chất liệu.

Chúng ta cũng có thể nhận xét cách tương tự về Thánh Giuse. Tân Ước không cung cấp các chi tiết về tiểu sử của Người (ngày và nơi sinh; ngày và nơi qua đời); tuy nhiên, những đoạn văn Tin Mừng đã phác họa vai trò của Người trong việc hoàn tất chương trình cứu độ mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô.

Trong chương này, chúng ta sẽ điểm qua những bản văn Tân Ước nói đến Thánh Giuse, đặc biệt nơi Tin Mừng của Thánh Matthew và Thánh Luca, và cố gắng khám phá ý nghĩa thần học của chúng. Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ khảo sát những đoạn văn Cựu Ước đã được Hội Thánh tiên khởi áp dụng cho sứ mạng của Thánh Giuse.[2]

***

MỤC I. TIN MỪNG THÁNH MATTHEW

I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT

Trong bốn sách Tin Mừng, Thánh Matthew nói nhiều hơn hết về Thánh Giuse: trong hai chương đầu, Thánh Giuse giữ vị trí then chốt, và phần nào họa lại vai trò của tổ phụ Giuse trong Cựu Ước. Ngoài ra, Đức Giêsu được gọi là “con bác thợ mộc” ở Mt 13,55.

Thánh Luca cũng nhắc đến Thánh Giuse trong hai chương đầu, tuy nhấn mạnh nhiều hơn đến Đức Maria. Dù sao, Thánh Luca bổ túc thêm cho Thánh Matthew nhiều chi tiết để hiểu rõ hơn vai trò của Thánh Giuse trong mầu nhiệm Nhập thể và Giáng sinh của Đức Giêsu. Thánh Giuse còn được nhắc đến hai lần nữa trong Tin Mừng Luca vào lúc khai mạc sứ vụ công khai của Đức Giêsu (Lc 3,23 và 4,22).

Thánh Giuse được nói đến hai lần trong Tin Mừng Thánh Gioan (1,45; 6,42), nhưng hoàn toàn vắng bóng trong Tin Mừng Thánh Marco.[3]

Trước hết, chúng ta bắt đầu khảo sát Tin Mừng Thánh Matthew, đặc biệt là hai chương đầu tiên, quen được đặt tên là “Tin Mừng thời niên thiếu” (hoặc “Tin Mừng thơ ấu”); tuy rằng, thuật ngữ này không được chính xác lắm.

Thật vậy, chủ đích của hai chương đầu của Tin Mừng Thánh Matthew (48 câu) và Luca (132 câu) không hẳn là thuật lại gia thế của Đức Giêsu và tuổi thơ ấu của Người (giai đoạn ẩn dật trước khi hoạt động công khai). Ngoài việc kể lại sự thụ thai trinh khiết trong cung lòng Đức Maria và sự giáng sinh tại Bethlehem, hai thánh sử không nói gì thêm về những sinh hoạt thời thơ ấu của Đức Giêsu (đừng kể việc thánh gia lánh nạn sang Ai Cập và việc ở lại trong đền thờ lúc lên 12 tuổi). Thử hỏi các thánh sử có chủ đích gì? Tại sao phải thêm hai chương này, trong khi Thánh Marco và Thánh Gioan bắt đầu Tin Mừng với cuộc đời công khai của Đức Giêsu? Các học giả đã đưa ra nhiều ý kiến, có thể thu vào hai quan điểm.

– 1/. Quan điểm thứ nhất cho rằng đây là một thể văn đương thời giới thiệu các vĩ nhân với những điềm lạ xuất hiện trước khi chào đời, tựa như Abraham, Moses, Isaac, Samuel. Khuynh hướng này còn tăng hơn nữa nơi các “Tin Mừng ngụy thư”. Tuy nhiên, chủ ý của người viết không chỉ là đề cao thân thế của nhân vật anh hùng, nhưng còn muốn chúc tụng Thiên Chúa đã đoái thương dân tộc ưu tuyển và đã phái đến những vị cứu tinh.

– 2/. Quan điểm thứ hai cho rằng hai chương này là một thứ nhập đề cho toàn thể cuốn Tin Mừng. Tin Mừng cứu độ của Đức Kitô được hoàn tất với mầu nhiệm Vượt qua nhưng đã được phác họa ngay từ khi Người ra đời. Nói khác đi, Đức Kitô là Đấng cứu độ nhân loại ngay từ cuộc Nhập thể, tuy hồng ân này đạt đến cao điểm nơi cuộc Tử nạn và Phục sinh.[4]Nơi Thánh Matthew, cốt yếu Tin Mừng có thể tóm lại như thế này: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa đến để cứu chuộc muôn dân, là Đấng Messia được hứa cho dân tộc Israel. Thế nhưng Người đã bị dân tộc này khước từ (vua Herode tìm cách thủ tiêu Người;[5] cũng như về sau này các nhà lãnh đạo Do Thái sẽ lên án xử tử Người, Mt 27,1-2), đang khi đó Tin Mừng lại được dân ngoại đón nhận (các nhà chiêm tinh ở đây, cũng tựa như các dân tộc bên Đông bên Tây sẽ đến tham dự tiệc trong Nước Thiên Chúa, Mt 8,11; 28,19).

Thiết tưởng, hai quan điểm không trái nghịch nhau, bởi vì cả hai đều nhấn mạnh rằng không nên đọc “Tin Mừng thơ ấu” như là đọc chuyện thần thoại, nhưng cần phải khám phá ý nghĩa sâu xa của các trình thuật. Khuynh hướng thứ nhất cố gắng tìm hiểu ý nghĩa qua việc khảo sát thể văn, đối chiếu với các tác phẩm văn chương cổ điển. Khuynh hướng thứ hai chú trọng đến nội dung thần học, gắn liền với toàn bộ Tin Mừng. Theo nhãn giới này, “Tin Mừng niên thiếu” cũng có những nét giống với tự ngôn của Tin Mừng theo Thánh Gioan, nói về nguồn gốc của Đức Giêsu trước thời kỳ hoạt động công khai, nguồn gốc bắt đầu từ khởi nguyên (Ga 1,1). Chúng tôi sẽ áp dụng đường hướng này khi tìm hiểu các bản văn.

Xét về cấu trúc, hai chương đầu theo Tin Mừng Thánh Matthew, đã có nhiều đề nghị phân đoạn:

– 1/. Một ý kiến cho rằng, toàn bộ sách Tin Mừng theo Thánh Matthew được phân thành 5 quyển sách tương tự như bộ Ngũ thư của ông Moses. Cụ thể là các lời giảng của Đức Giêsu được gom thành 5 bài giảng về Nước Trời:

a/. Bài giảng trên núi công bố hiến chương Nước Trời, ở các chương 5-7;

b/. Bài giảng về sứ vụ rao giảng Nước Trời, chương 10;

c/. Bài giảng về các dụ ngôn giải thích bản chất Nước Trời, chương 23;

d/. Bài giảng về kỷ luật nội bộ Hội Thánh, mầm mống của Nước Trời, chương 18;

e/. Bài giảng về sự thiết lập vĩnh viễn Nước Thiên Chúa vào thời cánh chung, chương 24-25.

Hai chương đầu tiên xem ra đã gói ghém ý tưởng đó, với việc trưng dẫn 5 câu Kinh Thánh để kết thúc 5 đoạn văn:

Nhập đề: Gia phả (1,1-17)

a/. Isaia 7,14: Ơn gọi của Giuse (1,18-25)

b/. Mikha 5,2: Vua Herode, các nhà chiêm tinh, Bethlehem (2,1-12).

c/. Hoses 11,1: Trốn sang Ai Cập (2,13-15)

d/. Gieremia 31,15: Tàn sát các anh hài (2,16-18)

e/. Isaia 4,3 (Tl 13,5?): Từ Ai Cập trở về Nazareth (2,19-23).

Dĩ nhiên, các học giả còn đưa ra nhiều giả thuyết khác về cấu trúc của hai chương này, chẳng hạn:

– 2/. Dựa theo các giấc mơ của Thánh Giuse dẫn tới hành động

Trong Tân Ước, chỉ có Tin Mừng Matthew đề cập đến giấc mơ như là một phương tiện mặc khải ý Chúa.[6] Thánh sử ghi nhận 6 trường hợp được ghi nhận, trong đó 5 trường hợp nằm ở hai chương đầu, và cách riêng 4 trường hợp được dành cho ông Giuse (lấy bà Maria làm vợ; đưa thánh gia sang Ai Cập; trở về quê hương; định cư ở Nazareth). Trường hợp thứ năm dành cho các nhà chiêm tinh (2,12). Ba lần báo mộng cho ông Giuse được thuật lại theo một mô hình đồng nhất:

a/. Nhập đề: mô tả hoàn cảnh

b/. Công thức: “này kìa sứ thần Chúa[7] hiện đến báo mộng cho ông rằng”.

c/. Sứ điệp: thiên sứ trao cho ông một công tác “hãy đem” (hãy mang).

d/. Tuân hành: ông Giuse tuân hành

e/. Trích dẫn Kinh Thánh: để ứng nghiệm lời Chúa về một danh hiệu của Đức Giêsu: Emmanuel, Con (Thiên Chúa), người Nazareth.

– 3/. Dựa theo bốn câu hỏi xoay quanh căn cước của Đức Giêsu

a/. Ai (Quis)? Đức Giêsu Kitô (Messia), con vua David, con của cụ Abraham, sinh bởi một phụ nữ (1,1-17).

b/. Bằng cách nào (Quomodo)? Con Thiên Chúa đã trở nên con vua David do ông Giuse thuộc dòng dõi David chấp nhận hài nhi được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần (1,18-25).

c/. Ở đâu (Ubi)? Bethlehem, thành phố David, nhưng được các nhà chiêm tinh thuộc dân ngoại đến bái yết (2,1-12).

d/. Từ đâu (Unde)? Từ Bethlehem của người Do Thái, đi lánh nạn sang Ai Cập giống như ông Moses, về miền Galilee của dân ngoại, định cư tại Nazareth.

– 4/. Dựa theo những cuộc di chuyển địa lý: Bethlehem- Ai Cập – Nazareth

a/. Chương 1, diễn ra tại Bethlehem, thành phố vua David

b/. Chương 2, tường thuật việc di chuyển từ Bethlehem sang vùng đất dân ngoại (Ai Cập), để rồi kết thúc với việc hồi hương về Israel và định cư tại Nazareth.

Những cuộc di chuyển này không phải là do ngẫu nhiên, nhưng nằm trong toàn bộ lịch sử cứu độ, “ngõ hầu lời ngôn sứ được nên trọn”: Đức Giêsu sinh tại Bethlehem như là Messia lãnh tụ Israel dõng dõi vua David (2,6); sang Ai Cập và ra khỏi đó như là con Thiên Chúa(2,15); về Nazareth, trở thành biệt hiệu “Giêsu Nazareth” (2,23).

Sau phần giới thiệu tổng quát, bây giờ chúng ta hãy khảo sát bản văn.

II. GIA PHẢ ĐỨC GIÊSU KITÔ (1,1-17)

“Đây là gia phả Đức Giêsu Kitô, con cháu vua David, con cháu tổ phụ Abraham” (Mt 1,1).

Tin Mừng Matthew mở đầu bằng một câu thoạt tiên xem ra mang tính cách cung khai lý lịch, kê khai dòng tộc. Thực ra, dụng ý của tác giả sâu xa hơn nhiều: đây không phải là lý lịch hành chánh cho bằng một lời tuyên xưng đức tin: “Đức Giêsu vừa là con cháu của vua David(nghĩa là phần tử của dân Israel) vừa là con cháu tổ phụ Abraham (nghĩa là phần tử của dân ngoại)”.

Thánh sử muốn chứng tỏ cho dân Do Thái biết rằng, Đức Giêsu là Đấng Messia (Kitô) được hứa cho miêu duệ của David qua gia phả của ông Giuse là con cháu David (chương Một), qua sinh quán là Bethlehem, thành phố vua David (chương Hai). Đồng thời, Đức Giêsu cũng mang ơn cứu độ cho dân ngoại, bởi vì Người là con cháu của tổ phụ Abraham, kẻ đã nhận được lời hứa dành cho muôn dân: “Từ Đông Phương, Tây Phương, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaac và Jacob trong Nước Trời, còn con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc, nghiến răng” (Mt 8,11-12). Trong chương Hai, thánh sử cho thấy rằng, các nhà chiêm tinh thuộc dân ngoại đi tìm vua mới giáng sinh để bái thờ, còn các nhà lãnh đạo tại Jerusalem tỏ ra lãnh đạm với Người, và còn đồng lõa với vua Herode để giết Người.

Vì thế, chúng ta đừng nên đọc gia phả của Đức Giêsu theo cặp mắt của cơ quan an ninh muốn truy tầm cặn kẽ gốc tích của Người. Thánh sử còn gói ghém nhiều dụng ý thần học trong đó nữa, đến nỗi có lúc phải gò ép các dữ kiện: “Từ tổ phụ Abraham đến vua David là 14 đời; từ vua David đến thời lưu đày ở Babylon là 14 đời; và từ thời lưu đày ở Babylon đến Đức Kitô cũng là 14 đời” (Mt 1,17). Con số 14 đời xem ra giả tạo khi áp dụng cho những thời kỳ dài ngắn khác nhau: từ tổ phụ Abraham (khoảng 1850) đến vua David (khoảng 1000) thời gian là 850 năm, từ vua David đến thời lưu đày ở Babylon (năm 598) là 400 năm, và từ thời lưu đày đến Đức Kitô là 600 năm. Làm sao những khoảng thời gian chênh lệch như vậy mà gồm 14 đời ngang nhau được? Để đếm trọn số 14, Matthew buộc lòng gạt bỏ nhiều tên, và dĩ nhiên việc lựa chọn những ai đáng loại không phải là không có lý do, thí dụ: vua Giơhôgiakim con của vua Giôsigia (2V 36 tt) vào thời lưu đày Babylon, (lẽ ra phải nhắc đến ở câu 11).[8]

Vấn đề chính yếu ở đây không phải là thống kê chính xác con số các thế hệ. Xem ra trọng tâm xoay quanh nhà vua David: vua David là thừa kế của lời hứa dành cho tổ phụ Abraham, và vua David được Thiên Chúa hứa sẽ thiết lập một triều đại muôn đời (xc. 2Sm 7,12-16). Lời hứa ấy vẫn tồn tại bất chấp cuộc lưu đày ở Babylon, và nay được thực hiện nơi Đức Giêsu, là “Con Vua David” (Mt 9,27; 12,23; 15,22; 20,30.31; 21,9.15; 22,41-45). Đức Giêsu trở nên Con Vua David qua móc xích của ông Giuse là con cháu David, như sẽ nói sau.

Do đó, theo các nhà chú giải, con số 14 mang tính cách biểu tượng, vì tổng cộng số thứ tự của các phụ âm ghép thành tên David trong chữ Hippri: DWD (4+6+4).[9]

Tóm lại, Thánh Matthew không chỉ liệt kê các dòng dõi tổ tiên của Đức Giêsu nhưng còn gói ghém một dụng ý khác nữa. Điều này có thể xác minh qua một chi tiết khác. Bản gia phả bắt đầu bằng danh từ “Genesis” (câu 1) có nghĩa là “sự sinh ra” (“Generatio”, chứ không chỉ là sách gia phả, gốc tích); danh từ này được lặp lại ở câu 18 (Iesu Christi autem generatio sic erat). Xâu chuỗi các thế hệ được liên kết với nhau qua động từ “sinh ra” (Generat): ông A sinh ông B; ông B sinh ông C,.v.v… từ câu 2 cho đến câu 16 (lặp lại 39 lần). Nhưng đến cuối thì xâu chuỗi bị gián đoạn: thay vì tiếp tục “ông Jacob sinh ông Giuse, ông Giuse sinh ông Giêsu”, Thánh Matthew lại viết: “ông Jacob sinh ông Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô” (câu 16). Trước sự thắc mắc đương nhiên của độc giả, thánh sử tìm cách giải thích: “sự sinh ra Đức Giêsu Kitô là như thế này” (câu 18). Đến đây, ông Giuse trở thành nhân vật hàng đầu: ông là con cháu vua David và truyền lại gia thế này cho Đức Giêsu, mặc dù ông không phải là cha của Đức Giêsu theo phương diện sinh lý.

III. TRUYỀN TIN CHO THÁNH GIUSE (1,18-25)

Đoạn văn này thường được phân tích từ phía Đức Maria, nhưng ít khi được nhìn từ phía ông Giuse. Dù sao, Thánh Luca nói đến thiên sứ Gabriel truyền tin cho Đức Maria về việc sinh hạ Đức Giêsu; còn Thánh Matthew nói đến việc thiên sứ truyền tin cho Thánh Giuse, không những để đánh tan một mối nghi ngờ nhưng còn mặc khải sứ mạng của ông trong mầu nhiệm Nhập thể. Thực vậy, việc truyền tin cho Thánh Giuse không chỉ nhằm giải thích nguồn gốc của sự kiện Đức Maria có thai, nhưng còn mời gọi ông hãy tham gia vào việc hoàn tất chương trình của Thiên Chúa, đó là Đấng Messia thuộc dòng vua David.

Trước khi đi vào nội dung, chúng ta nên nhớ rằng sách Tin Mừng của Thánh Matthew được viết cho dân Do Thái và sử dụng nhiều cách lập luận dựa theo nền văn hóa của họ. Người đọc phải làm quen với não trạng của họ, xét về mặt tín ngưỡng (dựa trên giao ước của Thiên Chúa với các tổ phụ), cũng như xét về phong tục xã hội. Sự hiểu biết tục lệ người Do Thái cần thiết để hiểu nhiều vấn đề liên quan đến hôn nhân giữa Thánh Giuse và Mẹ Maria.

Tại nhiều dân tộc, trước khi cử hành lễ thành hôn (lễ cưới) thì có lễ đính hôn (lễ hỏi). Giá trị pháp lý của việc đính hôn thay đổi tùy nơi tùy thời. Ngày nay, việc đính hôn chỉ mang tính cách một lời hứa danh dự, chứ không có giá trị ràng buộc như là việc thành hôn. [10] Tuy nhiên, trong xã hội Do Thái thời xưa, việc đính hôn không những đặt ra nghĩa vụ ràng buộc đôi bên phải tiến tới việc kết hôn, mà còn mang theo nghĩa vụ chung thủy với nhau nữa. Luật pháp coi hai người đính hôn như là “vợ”và “chồng”. Vì thế, sự ngoại tình được coi như tội phạm ngay từ lúc đính hôn, chứ không phải từ lúc thành hôn (xc. Đnl 20,7; 22,23-25). Đàng khác, trong thời gian đính hôn, luật pháp cũng dự trù hai thủ tục để ly dị. Thủ tục thứ nhất mang tính cách công khai, khi người chồng tố cáo bà vợ ngoại tình, và như vậy bà phải chịu những hình phạt dành cho tôị ngoại tình(ném đá: xc. Ga 8,5). Thủ tục thứ hai mang tính cách tư riêng: trước mặt hai nhân chứng, ông trao cho bà một tờ tuyên bố từ hôn.

Chuyện xảy ra là: “bà Maria… đã đính hôn với ông Giuse; nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do Chúa Thánh Thần” (1,18). Thánh Matthew nói rằng, bà Maria chỉ mới đính hôn với ông Giuse mà thôi. Nên lưu ý là không tài liệu lịch sử nào nói đến tuổi tác của ông Giuse. Hình ảnh về ông Giuse đầu tóc bạc phơ là do ảnh hưởng của một ngụy thư “Tin Mừng tiên khởi Thánh Jacobe” sẽ nói trong chương tới. Cũng không có tài liệu nào cho biết hai người đã đính hôn với nhau từ hồi nào và chừng nào tính chuyện về chung sống với nhau. Dù sao, thì ông đã là chồng của bà Maria rồi (Mt 1,16.19) và bà là vợ (Mt 1,20). Bỗng nhiên, bà Maria đã mang thai. Theo lối hành văn của Matthew (1,19), ông Giuse không muốn làm to chuyện, và đi tới quyết định từ hôn theo thủ tục thứ hai nói trên đây. Tuy nhiên, lý do gì thúc đẩy ông hành động như vậy? Đây là đề tài tranh luận sôi nổi ngay từ thời các Giáo phụ.

A. Lý do ly dị

Nói chung, các ý kiến của các nhà chú giải được xếp thành hai nhóm: một nhóm cho rằng ông Giuse không biết gì về nguồn gốc siêu nhiên của việc bà Maria mang thai, vì thế ông đâm ra nghi ngờ; nhóm thứ hai chủ trương rằng ông đã rõ đầu đuôi sự việc, nhưng không biết phải xử trí thế nào.

1/. Dựa theo nhóm ý kiến thứ nhất (chẳng hạn các Giáo phụ: Giustino, Gioan Kim Khẩu, Ambrosio, Augustino, có lẽ chịu ảnh hưởng của “Tin Mừng tiên khởi Thánh Jacobe”), ông Giuse đã nghi ngờ về sự chung thủy của vợ mình, vì thế ông quyết định ly dị. Họ cũng nghĩ rằng, Đức Maria giữ thái độ thinh lặng, hoặc vì dè dặt khiêm tốn, hoặc vì biết rằng không thể nào thuyết phục được ông Giuse.

2/. Nhóm thứ hai (đại diện bởi thánh Hieronimo thời Giáo phụ, thánh Benardo và Thánh Thomas Aquinas thời Trung cổ) cho rằng, Thánh Giuse đã biết nguyên nhân khác thường của việc cưu mang của Đức Maria. Vào thời nay, ý kiến này được củng cố nhờ sự nghiên cứu ngữ học: Thánh Matthew viết rằng: “trước khi hai ông bà về chung sống với nhau, thì thấy bà có thai”, ở thể văn không có chủ từ. Như vậy, có thể là tác giả chỉ trưng dẫn sự kiện, chứ không khẳng định “ai đã thấy”? Hơn nữa, câu văn không dứt ở chỗ “thấy bà có thai”, nhưng còn tiếp tục “do Chúa Thánh Thần”. Phải chăng, dụng ý của Matthew ở đây là muốn đề cao một mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu biết của bà Maria cũng như của ông Giuse?

Thánh sử không xác định bằng cách nào ông Giuse biết được vợ mình có thai: tại vì sự kiện trờ trờ ra đó? Hay là do họ hàng bên vợ kháo láo? Hoặc vì chính bà đã tâm sự với chồng về sự lúng túng của mình?

B. Ông Giuse là người công chính

“Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).

Tại sao ông Giuse được gọi là công chính?

1/. Những ai chủ trương ông đã nghi ngờ bà Maria ngoại tình thì giải thích “công chính” theo nghĩa là tôn trọng luật pháp (công minh chính trực). Nếu người vợ (dù chỉ mới đính hôn)phạm tội ngoại tình, thì chồng buộc phải từ hôn (xc. Đnl 22, 23-27). Ông ta có quyền lựa chọn một trong hai thủ tục như đã nói. Trường hợp này, ông Giuse chọn thủ tục tư riêng, bởi vì không muốn làm mất thanh danh của vợ. Như vậy, ông vừa tuân hành luật pháp, vừa tôn trọng sự công bằng với bà vợ (xét vì ông chưa nắm vững các tình tiết của câu chuyện).

2/. Tuy nhiên, các nhà chú giải cận đại muốn đào sâu vấn đề hơn nữa, nghĩa là tìm hiểu ý nghĩa của từ “công chính” (Dikaios) theo truyền thống Kinh Thánh. Hạn từ “công chính” được sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng Matthew, áp dụng cho những người mong chờ Thiên Chúa thực hiện những lời hứa (Mt 13,17; 23,29), hoặc cho các môn đệ sẽ được gia nhập Nước Thiên Chúa (Mt 13,43.49; 25,37.46). Thực vậy, theo Kinh Thánh, người công chính là kẻ đi theo đường lối của Chúa, như sách Khôn Ngoan đã liệt kê những gương mẫu ở chương 10,4-20: Noe, Abraham, Lot, Jacob, Giuse. Thánh Vịnh ca ngợi người công chính vì họ sẽ lãnh được đất hứa (Tv 37,29), họ sẽ tươi tốt như cây dừa (Tv 92,12), họ sẽ được ánh sáng Chúa chiếu dọi (Tv 112,4).

Trong bối cảnh này, ông Giuse được gọi là “công chính” bởi vì ông mong đợi Chúa thực hiện những lời hứa. Ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì Chúa muốn để hoàn tất chương trình của Ngài. Dự tính muốn bỏ bà Maria cách kín đáo không phải chỉ do sự tôn trọng luật pháp hay tôn trọng danh dự của bà thúc đẩy, nhưng còn có cái gì sâu xa hơn nữa. Ta có thể ví với thái độ của những người đối diện với một mầu nhiệm cao cả: họ thụt lùi lại vì kính sợ, tựa như ông Moses đã cởi dép khi tiến đến bụi gai cháy rực (St 3,5), tựa như ông Isaia thất kinh khi diện kiến Thiên Chúa cực thánh (Is 6,5), tựa như ông Simon sau khi chứng kiến mẻ lưới lạ thường (Lc 5,8). Ông Giuse được biết là bà Maria “có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, vì thế ông không dám chiếm hữu người con không phải là của mình. Vì thế ông toan tính rút lui.

Để củng cố thêm cho sự giải thích vừa rồi, cha Ignace de La Potterie[11] nhận xét rằng, cần phải xét lại các bản dịch cổ truyền. Thay vì “ông Giuse là người công chính không muốn tố giác bà”, cần phải dịch là “ông Giuse là người công chính không muốn tiết lộ [mầu nhiệm], quyết định rời bỏ bà kín đáo”. Động từ “Deigmatisai” (ít được sử dụng trong tiếng Hy Lạp) tự nó chỉ có nghĩa là “thông báo, nói cho biết, đưa ra ánh sáng” (theo sự giải thích của Eusebio Cesarea), và tùy theo mạch văn mà thay đổi ý nghĩa: có thể là “tố cáo, tố giác” (điều xấu),“bày tỏ, tiết lộ” (điều tốt). Ông Giuse được bà Maria tâm sự về sự cưu mang do quyền năng Thánh Thần, và ông không dám tiết lộ mầu nhiệm này.

C. Sứ điệp của thiên sứ

Thánh Matthew mô tả việc thiên sứ hiện ra với ông Giuse dựa theo những khuôn mẫu trong Cựu Ước về việc ủy thác sứ mạng (chẳng hạn Giđêon Tl 6,11-24), hoặc tiên báo về tương lai của đứa trẻ (chẳng hạn Ismael trong St 16,11; Isaac trong St 17,19; Samson trong Tl 13,3-5.7).

– Trình thuật bắt đầu với việc gọi tên và danh hiệu mang theo một ơn gọi: “Này Giuse là con cháu David” (1,20), cũng tựa như trước đây: “Này Giđêon, người dũng sĩ” (Tl 6,12).

– “Đừng sợ”. Tân Ước thường dùng những lời này mỗi lần thiên sứ hiện ra, chẳng hạn để loan báo sự sinh hạ của ông Gioan Tiền Hô và Đức Giêsu (Lc 1,13.30), để ủy thác cho các phụ nữ loan báo việc Chúa Phục sinh (Mt 28,5.10), để cổ động tinh thần cho Thánh Phaolô(Cv 18,9). Một cách tương tự như vậy, thiên sứ sắp sửa tỏ lộ cho ông Giuse một sứ mạng.

– Nội dung mặc khải: thiên sứ muốn nói gì với ông Giuse?

1/. Theo nhóm ý kiến thứ nhất, ông Giuse nghi ngờ về sự chung thủy của vợ mình bởi vì ông không biết nguồn gốc của bào thai mà vợ mình đang mang. Vì thế thiên sứ đến giải thích nguyên nhân ngõ hầu đánh tan sự ngộ nhận. Như vậy, nội dung của mặc khải là: “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do Chúa Thánh Thần”.

2/. Tuy nhiên, lối giải thích ấy một đàng dựa trên giả thiết là ông Giuse nghi ngờ về vợ mình, đàng khác đã cắt ngang lời của thiên sứ. Sứ điệp không chỉ nhằm giải thích nguồn gốc của sự cưu mang, nhưng còn mang theo một sứ mạng về phía ông Giuse nữa: “Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (1,21). Có lẽ ông Giuse đã biết là bà Maria mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần(chứ không phải vì ngoại tình), nhưng ông không biết phải xử trí thế nào, vì thế ông định tâm sẽ rút lui. Thiên sứ đến xác nhận rằng bà Maria mang thai do Chúa Thánh Thần; đồng thời bảo ông Giuse đừng rút lui nhưng cứ đưa bà Maria về với mình, bởi Chúa đã giao cho ông một sứ mạng, đó là đặt tên cho con trẻ, nghĩa là làm cha của con trẻ.

D. Vai trò của ông Giuse

Qua lời của thiên sứ, ta thấy nổi bật hai vai trò của ông Giuse trong chương trình của Thiên Chúa: chồng của bà Maria và cha của Đức Giêsu.

1/. Ông Giuse là chồng của bà Maria (1,16.19.20)

Hai người tiếp tục thủ tục hôn phối: từ chỗ đính hôn đến chỗ kết hôn (Mt 1,24). Tuy nhiên, hai người không ăn ở với nhau: “Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai” (1,25). Điều này không nhất thiết hàm ngụ rằng sau khi sinh con, thì hai ông bà lại ăn ở với nhau! Tác giả chỉ muốn nói rằng Đức Giêsu sinh ra không do sự giao hợp thường tình, có thế thôi. Cụm từ “cho đến khi” không giả thiết một sự thay đổi tình trạng sau đó; chẳng hạn như, khi Kinh Thánh viết rằng, “bà Michal không có con cho đến khi chết” (2Sm 6,23), hoặc Đức Giêsu hứa sẽ hiện diện với các môn đệ cho đến ngày tận thế (Mt 28,20). Không ai tưởng tượng được rằng bà Michal sẽ có con sau khi chết, hoặc là Đức Giêsu chỉ hiện diện với các môn đệ cho đến ngày tận thế mà thôi!

2/. Ông Giuse là cha của Đức Giêsu

Thiên hạ nhìn nhận Đức Giêsu là “con ông Giuse” (Mt 13,55). Tuy Đức Giêsu được sinh ra không do sự giao hợp vợ chồng, nhưng ông Giuse thực sự là cha của Người, bởi vì ông là chồng của bà mẹ. Vai trò làm cha được biểu lộ qua việc “ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (1,25), cũng như những hành động sẽ nói tiếp theo. Ở đây, theo lời của sứ thần, ông cần phải làm cha của hài nhi bởi vì ông là “con cháu David”, nhờ vậy hài nhi Giêsu được nhận vào hàng miêu duệ vua David (Mt 1,16-17).

Hơn nữa, việc đặt tên cho con trẻ là Giêsu không chỉ là một hành vi hộ tịch (cha đặt tên cho con), mà còn là một hành vi đức tin. Con trẻ sinh ra được xưng là “Giêsu”, “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,22).

“Tất cả sự việc này đã xảy ra là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là: Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (1,23). Đoạn văn này được trích từ ngôn sứ Isaia 7,14. Thường người ta chú ý đến ý tưởng “một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con trai” và từ đó nảy ra nhiều cuộc tranh luận, bởi vì nguyên bản Hippri không nói đến “trinh nữ” (betulah) mà chỉ là “thiếu nữ” (almah: một cô gái). Bản dịch Hy Lạp chuyển nghĩa là “trinh nữ”.

Tuy nhiên, cũng có nhà chú giải nêu thắc mắc: đâu là điểm nhấn của Matthew? Có phải là“trinh nữ thụ thai”, hay tên con trẻ là “Emmanuel” – Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Có lý do để nghiêng về vế thứ hai, bởi vì Tin Mừng Matthew kết thúc với lời tuyên xưng rằng: “Này, Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28): Đức Giêsu đích thực là Emmanuel, bởi vì là Thiên Chúa đến ở với nhân loại kể từ lúc nhập thể cho đến tận cùng lịch sử. Dù sao đi nữa, Thánh Matthew không trích dẫn nguyên văn lời Isaia, nhưng đã thích nghi với thực tại mà vị ngôn sứ sống trước đó 8 thế kỷ không thể nào mường tượng được. Có lẽ, ông Isaia không thể tưởng tượng nổi một trinh nữ sinh con! Điều này chỉ có thể xảy đến do sự can thiệp độc đáo của Thiên Chúa. Các Kitô hữu đã tin như vậy; rồi từ niềm xác tín đó, họ đã đọc lại Cựu Ước và khám phá ra những sự chuẩn bị mà nay trở nên trọn vẹn. Phương pháp này gặp thấy nhiều lần trong Tân Ước, đặc biệt nơi Tin Mừng Matthew (41 lần). Như đã nói trên đây, trong hai chương đầu, Matthew trưng dẫn 5 “lời” của Cựu Ước, nhưng không hoàn toàn lấy nguyên văn: có lúc ông sửa đổi đôi chút (Mt 1,23 = Is 7,14), có lúc ghép hai ba câu làm một (thí dụ: Mt 2,6 = Mk 5,1tt + 2 Sm 5,2. Mt 2,22 = Tl 13,5.7+ Is 11,1).

Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở mục 4 (những đoạn văn Cựu Ước nói về Thánh Giuse).

IV. CÁC NHÀ CHIÊM TINH (2,1-12)

Thánh Matthew mở đầu sách Tin Mừng với việc khẳng định căn cước của Đức Giêsu là “con cháu vua David và con cháu tổ phụ Abraham”. Xem ra, chương Một được dành để chứng tỏ sự liên hệ của Đức Giêsu với David (vua dân Do Thái), và chương Hai được dành bàn đến mối liên hệ với ông Abraham (tổ phụ của muôn dân).

Chương hai mở đầu với biến cố các nhà chiêm tinh từ bên Đông Phương đến bái lạy “Vua dân Do Thái” vừa mới sinh (2,2). Nên lưu ý, bản văn không nói đến “ba vua”: họ không phải là vua, cũng không chỉ có ba; con số này được suy đoán từ ba lễ phẩm mang đến (vàng, nhũ hương, mộc dược).[12] Họ được gọi là “Magus”, một danh từ mang nhiều ý nghĩa: các lãnh đạo tôn giáo (đạo sĩ), những hiền nhân quân tử, các nhà thiên văn. Họ đến từ Đông Phương(xét theo địa lý của Palestina, nghĩa là có thể từ Arabia, Syria, hoặc Babylonia). Họ đã nhận được một tín hiệu từ một ngôi sao mọc lên: đã có nhiều bút mực chảy ra để xác định bản chất của ngôi sao kỳ diệu này (sao chổi, chòm sao, hay chỉ là sao tưởng tượng?).[13] Những vấn đề này không quan trọng lắm đối với vấn đề đang bàn, bởi vì có lẽ dụng ý của Matthew nằm ở chỗ khác, đó là so sánh thái độ của cấp lãnh đạo dân Do Thái với các lãnh đạo của dân ngoại.

Như đã biết, người Do Thái đang mong chờ Đấng Messia đến để tái lập vương triều David, giải thoát dân tộc khỏi ách nô lệ ngoại bang (xc. Cv 1,6). Tuy nhiên, lúc ấy, tại Jerusalem, vương quyền nắm trong tay triều đại Herode, dưới quyền kiểm soát của chính quyền Roma. Ông Herode coi mình là “vua” chính thức (Mt 2,3), và không thể nào dung túng cho bất cứ ai đe dọa ngai báu của mình. Tuy các giới lãnh đạo tôn giáo và kinh sư tại Jerusalem cũng biết đến các sấm ngôn, nhưng họ đứng về phía vua Herode, cho nên họ không đếm xỉa gì đến biến cố Chúa giáng sinh. Ngược lại, các nhà chiêm tinh thuộc dân ngoại thì lại háo hức đi tìm kiếm Chúa để thờ lạy. Việc chính quyền Jerusalem khai trừ “vua người Do Thái” mới ra đời báo trước việc tẩy chay “Vua người Do Thái” mai sau, đưa đến việc đóng đinh Người trên thập giá (Mt 27,37).

Trong câu chuyện này, Thánh Giuse đứng ở hậu trường. Tên của ông không được nhắc đến, bởi khi ở câu 11, thánh sử viết: “Họ vào nhà, thấy Hài nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người”. Hiểu ngậm là Thánh Giuse cũng hiện diện lúc đó, bởi vì cụm từ “Hài nhi và mẹ Người” được dùng bốn lần trong chương Hai (câu 13.14.20.21) bên cạnh Thánh Giuse. Tuy nhiên, thiết tưởng nên ghi nhận sự hiện diện của Thánh Giuse qua một lối hành văn khác, đó là ở chương Một, ông định bỏ bà Maria cách “kín đáo” (1,19); còn bây giờ vua Herode “kín đáo” tra vấn các nhà chiêm tinh (2,7). Cả hai hành vi diễn ra cách kín đáo (bí mật), nhưng một bên là vì muốn tìm hiểu ý Chúa, bên kia là trái ngược ý Chúa. Sự đối chọi này tăng thêm ý nghĩa khi bước sang biến cố kế tiếp, khi âm mưu của vua Herode bị ông Giuse phá vỡ do một mặc khải từ trời.

V. LÁNH NẠN SANG AI CẬP (2,13-18)

Trong những đoạn tiếp của chương Hai, ông Giuse trở thành nhân vật chính, với vai trò là bảo vệ “hài nhi và mẹ Người” (Mt 2,13.19.22). Ông tỏ ra thực sự là “người công chính” mau mắn tuân hành ý Chúa. Trước đây, ông vâng theo ý Chúa đón bà Maria về làm vợ; bây giờ ông vâng theo ý Chúa đưa thánh gia sang nước Ai Cập, rồi từ Ai Cập trở về quê hương, và đến định cư tại Nazareth.

Tại sao lánh nạn sang Ai Cập mà không sang nước khác? Đây không chỉ là vấn đề an ninh bản thân nhưng còn nằm trong kế hoạch cứu độ, như thánh sử Matthew giải thích câu Kinh Thánh: “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai Cập” (Hs 11,1). Ngôn sứ Hoses nói đến dân Israel được Thiên Chúa thương yêu như đứa con và dẫn ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập; nhưng Matthew áp dụng cho Đức Giêsu là Con Thiên Chúa: cũng như Moses không những cứu dân mình ra khỏi cảnh nô lệ mà còn đưa vào đất Israel, Đức Giêsu – Thiên Chúa cứu độ – là ông Moses mới, lãnh đạo đoàn dân được cứu thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và đưa vào Nước Trời (Mt 2,21). Đó là kế hoạch của Thiên Chúa, và Thánh Giuse góp phần vào sự thực hiện chương trình này.

VI. TRỞ VỀ NAZARETH (2,19-23)

Biến cố cuối cùng được Thánh Matthew nói trong chương Hai là ông Giuse đưa thánh gia về quê hương Israel và định cư tại Nazareth:

“Sau khi vua Herode băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai Cập, báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài nhi và mẹ Người về đất Israel, vì những kẻ tìm giết Hài nhi đã chết rồi”. Ông liền chỗi dậy đưa Hài nhi và mẹ Người về đất Israel. Nhưng vì nghe biết Arkhêlao đã kế vị vua cha là Herode, cai trị miền Judea, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilee, và đến ở tại một thành kia gọi là Nazareth, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Nazareth”.

Đoạn văn này hàm chứa hai lần thiên sứ báo mộng tương ứng với hai hành động của ông Giuse: trước hết là trở về quê hương, kế đó là định cư ở Nazareth.

Trước đây, ông Giuse đã đưa thánh gia từ Bethlehem lánh nạn sang Ai Cập. Vì thế khi tính chuyện hồi hương thì đương nhiên là trở về quê cũ ở miền Judea (miền Nam Palestin). Tuy nhiên, ý Chúa lại định cách khác: ông Giuse sẽ về Nazareth, ở miền Galilee (miền Bắc Palestin). Tất cả đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa.

Nên lưu ý, các nhà chú giải Kinh Thánh không tìm thấy được một câu nào trong Cựu Ước nói là “Người sẽ được gọi là người Nazareth”:

– Vài học giả nghĩ rằng, “người Nazareth” là một biến thể của tính từ “Nazir”: kẻ được thánh hiến, giống như ông Samson được thánh hiến ngay từ lòng mẹ (Tl 13,5; 16,17); hoặc“Neser”: chồi lộc, được nói đến trong Is 11,1 (Đấng Messia thuộc chồi Jesse là thân sinh của David).

– Ý kiến khác cho rằng, thánh sử Matthew không nghĩ tới một câu văn cụ thể nào trong Kinh Thánh cho bằng toàn thể kế hoạch của Thiên Chúa nói chung: Đức Giêsu sinh ra tại Bethlehem, thành phố của vua David, nhưng sinh sống tại Nazareth, miền Galilee thuộc dân ngoại.

Dù sao, biệt hiệu của Người là “Giêsu Nazareth” (Mt 21,11; 26,71; xc Cv 22,8; 24,5; 26,9). Đối với người đương thời, Nazareth là một chốn vô danh tiểu tốt, và đôi khi còn bị khinh miệt nữa (Mc 14,67). Vì thế họ không thể nào chấp nhận Đấng Messia xuất thân từ Nazareth được (Ga 1,46; 7,41-42.52). Điều trớ trêu là chính cư dân Nazareth cũng chẳng có thiện cảm với Đức Giêsu (Mt 13,53-58; Mc 6,1-6; Lc 4,14.22-29).

Ông Giuse lẳng lặng thi hành ý Chúa, tuy dù ông không am tường tất cả mọi tình tiết. Từ chương Ba trở đi, Thánh Matthew chuyển sang giai đoạn hoạt động công khai của Đức Giêsu. Đến đây vai trò của ông Giuse trở nên lu mờ. Không ai biết được ông qua đời lúc nào. Tên ông còn được nhắc đến một lần nữa ở chương 13, khi thiên hạ thắc mắc về Đức Giêsu:“Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc sao?”.

Qua đó, chúng ta biết được Thánh Giuse làm nghề “thợ mộc”. Đoạn văn tương tự ở Mc 6,3 cho biết là Đức Giêsu cũng làm thợ mộc, và như vậy là Người được ông Giuse truyền nghề. Nên biết là, “thợ mộc” (Hy Lạp: Tektôn) đã được các Giáo phụ giải thích theo nhiều nghĩa: thợ mộc, thợ rèn, thợ nề (faber lignarius, o ferrarius, o morarius); tuy rằng, ý kiến thông thường cho rằng Thánh Giuse làm thợ mộc, thậm chí Thánh Justino viết rằng:“Người đẽo cày và ách cho thú vật” (Dial. 88: PG 6,888). Dù sao, vào thời bấy giờ, “thợ mộc” không chỉ được xếp vào hạng “thủ công”, mà nhiều người thuộc hạng “sĩ” cũng làm thợ mộc, chẳng hạn Rabbi Shammai. Vì thế không lạ gì khi dân Israel bị phát lưu sang Babylon, các thợ mộc cũng bị bắt cùng với hàng quý tộc (Gr 24,1).

Theo ngụy thư “Chuyện ly trần của ông Giuse thợ mộc”, thánh nhân qua đời khi đã cao niên(111 tuổi) lúc Đức Giêsu sắp lên 20 tuổi! Thánh Matthew không đả động gì đến cuộc ly trần của ông Giuse có lẽ vì thấy nhiệm vụ của Người đã hoàn tất. Từ nay, Đức Giêsu sẽ bắt đầu mặc khải Tin Mừng cứu độ, mà chủ thể là “Thiên Chúa là Cha trên trời”: các độc giả hãy cần dồn chú ý vào người Cha đó (xc Mt 23,9).

VII. KẾT LUẬN

Trong hai chương đầu của Tin Mừng Thánh Matthew, ta thấy Thánh Giuse giữ một vai trò quan trọng trong mầu nhiệm Nhập thể. Ông được Chúa gọi tham gia vào việc Chúa Cứu Thế ra đời cũng như che chở Hài nhi trong thời thơ ấu:

– Bằng cách đưa bà Maria về sống chung: ông trở thành chồng của bà, và cha của Đức Giêsu, nhờ thế Người trở nên con cháu vua David;

– Bằng cách đặt tên cho Hài nhi là Giêsu, mặc khải chân tướng của Người như là “Thiên Chúa cứu chữa”, “Thiên Chúa ở với chúng ta” (Emmanuel).

– Bằng cách bảo vệ Đức Giêsu khỏi bị vua Herode ám sát qua việc đưa thánh gia lánh nạn bên Ai Cập, rồi đưa về định cư tại Nazareth, nhờ thế Đức Giêsu trở thành ông Moses mới và mang biệt hiệu “Giêsu Nazareth”.

Tóm lại, ông Giuse đã đóng vai trò quan trọng trong việc “nặn hình” Đức Giêsu theo chương trình cứu chuộc. Tuy nhiên, ông đã thi hành sứ mạng trong tinh thần vâng phục đức tin như một tôi trung của Thiên Chúa. Đối lại, vinh dự của ông ở chỗ làm “chồng của bà Maria” (Mt 1,16.19), và nhất là Đức Giêsu được coi là “con ông Giuse” (xc. Lc 4,22; Ga 6,42).

1 2 3