Chúa Nhật Phục Sinh 4 A - Mục Tử Tốt Lành

Chúa Giê su tuyên bố: “Ta là cửa chuồng chiên” rồi sau đó, Ngài lại khẳng định thêm: “Ta là Mục tử tốt lành”, một tước hiệu không mang một chút tham vọng nào, nhưng nói lên ý muốn phục vụ của Ngài. Ngài là đấng chăm sóc, che chở, hướng dẫn, hoàn toàn khác hẳn một người chuyên khai thác bầy chiên. Trong một thế giới mà các lãnh tụ tìm mọi cách củng cố quyền hành của mình, thì Ngài đã đề cao Mục tử đích thực là hiến ban mạng sống để cho đàn chiên được sống dồi dào hơn.

Sách Công vụ  2, 14a.36-41

Thánh Phê rô kêu gọi tất cả mọi người sám hối. “Họ đau đớn trong tâm hồn”. Lời rao giảng của Ngài khiến một số đông người xin chịu phép Rửa

Thánh Vịnh  22

Chúa là Mục tử, chính Ngài luôn gìn giữ tôi. Ngài đồng hành với tôi qua mọi nẻo đường. Ngài là Bạn đường che chở tôi và giúp tôi vựot qua những bước khó khăn. Sự hiện diện của Ngài khiến tôi an lòng.

Thư 1 Phê rô 2, 20b-25

Gợi lại sự đau khổ ghê gớm Đức Ki tô phải chịu, Thánh Phê rô mời gọi các tín hữu hãy đi theo bước chân của Ngài. Ngài đã chấp nhận đau khổ bất công để trung thành với Cha và để yêu thương chúng ta. Ngài đã gánh lấy tội lỗi chúng ta, nhờ đó mà Ngài đã thay đổi hướng đi và ý nghĩa cuộc đời chúng ta. Giờ đây, Ngài là Mục tử chăn dắt chúng ta và dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa Cha.

Tinmừng: Ga 10, 1-10

NGỮ CẢNH

Diễn từ về “Mục tử tốt lành” tiếp nối với trình thuật đi trước, do đó được đặt trong bối cảnh các biến cố trong lễ lều (7,1-10,21), tạo thành một khối duy nhất và mạch lạc.

Chúa Giê su bắt đầu bằng một dụ ngôn không áp dụng cho Ngài hay một ai khác (10,1-5), nhưng người Pha ri sêu không hiểu dụ ngôn (10,6). Tiếp đến, Chúa Giê su tiếp tục khai triển thêm chủ đề bằng hai dụ ngôn áp dụng cho sứ mang của Ngài: dụ ngôn về cái cửa (10,7-10) và dụ ngôn về người mục tử tốt lành (10,11-18).

TÌM HIỂU

Quả thật, quả thật: cách mở đầu long trọng nầy đánh dấu một phân đọan mới trong bài diễn từ và một giai đoạn mới trong giáo huấn của Ngài.

Ràn chiên: kiểu nói chỉ một khuôn viên được giới hạn bằng tường rào bằng đá ở thôn quê, không hòan toàn đóng kín, để nhốt các đoàn vật ban đêm. Đàn chiên trong truyền thống tiên tri, theo một nghĩa nào đó luôn luôn chỉ Israên (Ed 34) và từ aule chỉ ràn chiên còn có nghĩa là hành lang đền thờ nơi dân Thiên Chúa tập họp. “Chúng ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt. Hãy vào cửa thánh điện cất tiếng tạ ơn, tới khuôn viên đền vàng dâng lời ca ngợi, tạ ơn Chúa và chúc tụng danh Người” (Tv 100,3-4).

Cửa: cả khi Chúa Giê su không xác định dụ ngôn nầy áp dụng cho ai thì việc ám chỉ đến Israên cũng phải được các thính giả hiểu. Vào bằng cửa có nghĩa là nắm lấy quyền hành do thánh ý Thiên Chúa Cha. Điều đó đã đúng cho các vua (“các mục tử Israên”, x. c. 11) không phải là những kẻ tiếm quyền và vẫn trung thành với Chúa. Và lại càng đúng hơn nữa cho Chúa Giê su, được đức tin dân chúng tiếp nhận, sẽ vào Giêrusalem “nhân danh Chúa” (12,13).

Trèo: dân tộc Israên đã là đối tượng cho nhiều tham vọng ngoại bang muốn thống trị vì những lí do không dính dáng gì đến tôn giáo cả.

Người giữ cửa: là người đầy tớ của vị mục tử chăn dắt đàn chiên. Chỉ có người nầy mới có quyền lên tiếng qui tụ đàn chiên. X. Mc 13,34.

Nghe tiếng: người Mục tử dùng một tiếng nói riêng biệt để gọi và qui tụ đàn chiên. Chúa Giê su sẽ áp dụng cho chính mình hình ảnh ấy để nói về những người nghe tiếng Ngài hoặc từ chối tin (10, 27). Ngài sẽ nói với Phi la tô rằng: “Ai thuộc về chân lí thì nghe tiếng Ta” (18,37).

Chiên: Mục tử tách biệt ra khỏi ràn những con không thụôc về đàn của mình. Đó là hình ảnh phán xử: chỉ những con chiên tin nhận Ngài mới đi theo Ngài. Đây có lẽ cũng là một lời loan báo phân biệt giữa Israen từ chối tin vá các môn đồ sẽ trở thành Giáo Hội.

Rồi dẫn chúng ra: dụ ngôn còn giả thiết một cuộc lên đường (10,5). Giáo Hội phái tách mình ra khỏi Israen còn ở trong ràn chiên để bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới giữa các dân tộc. Nhưng Chúa Giê su đi đầu cuộc xuất hành mới nầy.

Người lạ: dường như Chúa Giê su khá lạc quan: thời nào cũng thế, các tiến sĩ giả đều có đồ đệ đi theo mình. Tuy nhiên Ngài khẳng định rằng một thứ bản năng cho phép dân Thiên Chúa phân biệt tiếng nói của người mục tử đích thực và những người mục tử xấu.

Họ không hiểu: nếu không được giải thích, thì dụ ngôn nầy vẫn bí nhiệm. Những người Pha ri sêu không những thiếu trực giác: họ còn thiếu thiện chí nên không thể tiếp nhận biến cố mà họ đang sống. Đó chính là điều lên án họ. Đàn chiên bỏ họ mà chạy trốn.

Ta là: cả hai dụ ngôn mới bắt đầu bằng kiểu nói long trọng “Ta là” (10,7.11).

Cửa: dụ ngôn thứ nhất được khai triển theo hai bước. Trước tiên Chúa Giê su là cửa đàn chiên (10,7-8), trong cùng một nghĩa đó sau nầy Ngài sẽ nói: “Ta là Sự Sống” (14,6). Thật vậy, Ngài là “trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1Tm 2,5; x. thêm Ep 2,18). Khi Ngài gặp các môn đệ đầu tiên, Ngài đã loan báo sự đổi mới cái nhìn của Gia cóp về “cửa thiêng đàng” (St 28, 17): “Các anh sẽ thấy trời rộng mở” (1,51).

Mọi kẻ đến: rõ ràng đây không phải là các tổ phụ, cũng không phải là các tiên tri, mà có lẽ là các người thuộc bè Dê lốt, những người gây ra những cuộc đột kích, như băng đảng Barabas (18,40) hoặc như Têuđa và Giuđa người Ga li lê (Cv 5,35-37) đã đến trước Chúa Giê su: hành động bạo lực của họ không khai mạc Nước Thiên Chúa đến, như tin mừng loan báo. Họ thuộc thành phần những người “leo lối khác mà đột nhập vào ràn chiên” (10,1). Có lẽ Gioan cũng nghĩ đến những thiên sai giả của Giáo Hội sơ khai và những kẻ được loan báo sẽ xuất hiện trong thời cuối cùng (1Ga 2,18).

Chiên đã không nghe họ: chỉ có người mục tử do Thiên Chúa ủy phái đến mới có thể khiến cho dân nghe mình. Gamaliên đã nói về các môn đệ: “Nếu ý định hay công việc này là do người phàm, tất sẽ bị phá hủy; còn nếu quả thật là do Thiên Chúa, thì quí vị không thể nào phá hủy được” (Cv 5,38-39).

Ta là cửa: bước thứ hai (10,9-10): giờ thì cửa dùng cho vị Mục tử, chứ không cho đàn chiên. Những ai nói và hành động nhân danh Chúa Giê su thì mới đi qua cửa.

Sẽ được cứu: ai đi ngang Chúa Giê su sẽ có thể bảo đảm hoàn thành sứ mạng của mình, “đi và đến” một cách tự do; “tìm thấy đồng cỏ” là chức năng thứ nhất của người mục tử (x. Tv 23,1-2). 

Kẻ trộm: là người muốn hành động trên kẻ khác mà không đi ngang qua Chúa Giê su. “Ai không ở với Ta, là chống lại Ta” (Lc 11,23). Hắn chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng của mình: “Khốn cho các mục tử Israên, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Sữa các người uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các người giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt”(Êd 34,2-3).

Được sống: hành vi phá hoại của kẻ trộm làm nổi bật vai trò tích cực của Chúa Giê su. Mục tiêu của sứ mạng Ngài là sự sống (x. 10,28 x. thêm 1,4;5,21.24-29; 6,33-48; 20,31).

Dồi dào: ba lần, các phép lạ của Chúa Giê su được đánh dấu bởi ý tưởng phong phú (2,6; 6,11.13;21,11). Tòan công trình của Chúa Giê su được đặt dưới dấu chỉ lòng quảng đại của Thiên Chúa: “Nơi đâu tội lỗi đầy tràn, ân sủng càng chan chứa” (Rm 5,20).

 SỨ ĐIỆP

Bài tin mùng chủ nhật hôm nay nói với chúng ta về một mầu nhiệm cao cả của Đức Ki tô: Ngài được Thiên Chúa đặt làm mục tử chăn dắt đoàn dân Chúa. Đầu bài diễn từ, Chúa Giê su đã long trọng nói lên điều đó: “Thật, Ta bảo thật các ông”.

Đọan tin mừng bao gồm hai dụ ngôn, dụ ngôn về người mục tử và về cửa ràn (chuồng) chiên. Chúa Giê su cố ý nhấn mạnh đến sự khác biệt to lớn giữa người mục tử đích thực và kẻ trộm. Người mục tử đi qua cửa để vào ràn chiên, và chiên nghe theo tiếng của ông. Còn kẻ trộm thì không như vậy, vì họ không qua cửa mà vào, và chiên không quen tiếng của họ. Sứ điệp nhắm gửi đến những người biệt phái đã nghe nhưng không hiểu gì hết. Vì thế, Chúa Giê su nói thêm dụ ngôn thứ hai khi mạc khải là cửa ràn chiên, mở ra cho đàn chiên ra vào, và đóng lại để ngăn ngừa kẻ xấu.

Chúa Giê su đi rảo khắp các thành thị và làng mạc để rao giảng tin mừng. Ngài gặp những đám dân lang thang không ai lãnh đạo, không có mục tử hướng dẫn. Tâm hồn Ngài xúc động trước tình cảnh đau thương ấy. Nhất là thảm cảnh bơ vơ tất tưởi vì đói khát về phần thiêng liêng. Các lãnh đạo tôn giáo lẽ ra phải quan tâm chăm sóc thì gần như đã bỏ mặc họ.

Ngày nay cũng thế, có nhiều người sống không mục tiêu, không đức tin, không cùng đích cho cuộc đời. Họ bị cuốn trôi dạt theo mọi hướng; khi có phương tiện, họ lao vào hưởng thụ trong việc tiêu xài và giải trí. Cuộc sống hối hả như chạy nhưng lại không biết chạy về hướng nào. Thánh Tông đồ Phê rô mời gọi chúng ta hiểu và cảm thông sự chờ đợi lo lắng của họ và làm mọi cách để đưa tất cả những người nầy về với Mục tử nhân lành đang chăm sóc chúng ta. Đón nhận, dạy dỗ, giáo hoá và đồng hành với tất cả những người đó bằng sự quan tâm đặc biệt của Giáo Hội.

Đức Ki tô đã đưa ra những lời rất mạnh mẽ chống lại các mục tử xấu của Israel. Ngài gọi họ đúng là những tay lái buôn, vì họ không quan tâm gì đến nỗi ưu tư của dân, mà chỉ nghĩ đến lợi lộc của riêng mình. Họ hành động như “những kẻ đầu trộm đuôi cướp”, đến với đàn chiên chỉ để cướp bóc và phá huỷ mà thôi. Những mục tử giả hiệu đó ngày nay vẫn còn đang hoạt động dưới nhiều hình thức qua các giáo phái mọc lên như nấm, và tìm mọi cách lôi kéo người ta về với mình. Họ dùng tôn giáo để khống chế và để lợi dụng. Đặc biệt họ để ý đến những người đã bị suy yếu và thất vọng vì cuộc sống. Họ lạm dụng sự dễ tin và sự sợ hãi của họ. Thay vì loan báo tin mừng như một tin vui, họ dùng Kinh Thánh để đưa ra những lời hăm doạ về ngày của Thiên Chúa. Các giáo phái là một thách đố thực sự đối với Giáo Hội ngày nay. Liệu chúng ta có thể tiếp cận với những lo âu của con người thời nay với lòng kính trọng và quảng đại để đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng của họ không?

Lời Chúa Giê su nói cũng nhắm đến từng người chúng ta. Chúng ta được mời gọi sống như thế nào để hoàn tất sứ mạng nhân loại và Giáo Hội. Tất cả, ít hay nhiều, chúng ta đều có trách nhiệm đối với nhau. Nhưng làm thế nào để chu toàn những trách nhiệm đó? Như một sự phục vụ hoặc như một phương tiện để tìm lợi lộc ích kỉ cho mình?

Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về Chúa Giê su Vị “Mục tử tốt lành, vị Mục tử chân thật, cống hiến cả đời mình để cứu lấy đàn chiên”, Ngài nói: “Ta đến để cho đàn chiên được sống và được sống dồi dào”. Trong Chúa Giê su, chính Thiên Chúa đến gần. Và chính đó là điều mà người Pha ri sêu không chấp nhận. Họ đề cao sự linh thánh Thiên Chúa đến nỗi họ không thể chấp nhận sự gần gủi của vì Thiên Chúa ấy nơi Chúa Giê su. Họ chỉ thấy sự thánh thiện cao vời của Người và vực thẳm ngăn cách họ. Hơn ai hết, Chúa Giê su hiểu rõ người Pha ri sêu về điều đó. Thật vậy, Thiên Chúa là đấng Thánh vô cùng, đấng mà bằng sức lực riêng của mình, con người không thể đạt tới. Chính Ngài cũng đã từng dạy: “Ta là Đàng, là Sự Thật, và là Sự sống, không ai đến được với cha mà không qua Thầy”.

Do vậy, bài tin mừng nầy mời gọi chúng ta đặt Đức Ki tô trở lại trong trung tâm cuộc sống để Ngài hướng dẫn. Chắc chắn, Ngài không còn hữu hình, nhưng Ngài hứa sẽ hiện diện với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Trước khi biến khỏi tầm nhìn của các tông đồ, Ngài đã giao phó cho họ và toàn thể Giao Hội sứ mạng loan báo Tin Mừng và làm chứng niềm Hi vọng Ngài đặt nơi họ.

Đặt trọn niềm tin tưởng nơi chúng ta, Đức Ki tô chia sẻ sứ mạng qui tụ của Ngài: “Như Cha đã sai ta, Ta cũng sai anh em”. Lời mời gọi chia sẻ sứ mạng được ngỏ đến từng người chúng ta. Và vì vậy, Ngài không gửi chúng ta đi một mình, nhưng cùng đi với những người khác.

Chúng ta thông hiệp Mình và Máu Đức Ki tô chính là để kín múc tận nguồn ơn thánh; để đi vào trong chương trình yêu thương đã thúc đẩy Chúa Giê su.  Xin Ngài ban cho chúng ta sức mạnh và can đảm, để luôn turng thành đến cùng trong những trách nhiệm mà chúng ta được trao phó.

ĐÀO SÂU

MỤC TỬ ĐÍCH THỰC

 

Cv 2,14.36-41 Phê-rô kêu gọi mọi người sám hối

Tv 23,1 Chúa là Mục tử chăn dắt tôi

1Pr 2,20-25 Mục tử linh hồn chúng ta

Ga 10,1-10 Đức Giê-su là mục tử tốt lành và là cửa ràn chiên

 

1. HỎI: Các bài đọc được liên kết theo chủ đề gì?

THƯA: MỤC TỬ ĐÍCH THỰC. Thánh Vịnh 23 ca tụng Mục tử đích thực chăm sóc đàn chiên Thiên Chúa. Đó chính là Đức Giê-su mà Thiên Chúa đã đặt làm Đấng Cứu độ nhân loại (BTM). Vì thế Thánh Phê-rô kêu gọi mọi người sám hối để tin vào Ngài (Bđ1) và bắt chước Ngài kiên tâm chịu đựng mọi khó khăn thử thách trong cuộc đời theo Chúa (Bđ2).

2. HỎI: Nội dung bài đọc một (Cv 2, 14.36-41) như thế nào?

THƯA: Bài đọc một là đoạn kết thúc bài giảng Thánh Phê-rô nói với người Do thái sáng ngày lễ Ngũ tuần (37- 41). Sau khi đã mạnh dạn chứng minh cho họ biết Đức Giê-su chính là Chúa và là Đấng Mê-si-a Thiên Chúa sai đến, ngài mời gọi họ phải sám hối, và chịu phép rửa nhân danh Đức Giê su Ki tô để được ơn tha tội và nhận lãnh ơn Thánh Thần.

3. HỎI: Mục tiêu của Thánh Phê-rô là gì?

THƯA: Là mở mắt cho người Do thái được nhìn thấy điều mà Thiên Chúa đã làm nơi Đức Giê-su:  Đấng Mê-si-a mà người Do thái không ngừng chờ mong chính là Ngài, đã bị họ lên án tử hình và treo trên thập giá ở Giê-ru-sa-lem vài tuần trước..

4. HỎI: Hai tước hiệu: ‘Chúa’ và ‘Ki tô’ có nghĩa gì đối với người Do thái?

THƯA: Đối với người Do thái, hai tước hiệu ‘Chúa’ và ‘Ki tô’ gán cho Đức Giê-su là rất táo bạo. Tước hiệu ‘Ki tô’ gán cho Đấng Mê-si-a còn tước hiệu ‘Chúa’ thì đôi khi gán cho Đấng Mê-si-a, đôi khi gán cho Thiên Chúa. Như thế, Phê-rô đã đặt toàn bộ niềm hi vọng của Ít-ra-ên vào Đức Giê-su.

5. HỎI: Phản ứng của người Do thái như thế nào?

THƯA: Họ ‘đau đớn trong lòng’, cảm xúc đầu tiên của tâm hồn sám hối. Lòng sám hối đã khiến họ khiêm tốn đặt câu hỏi như người ta đã hỏi Gio-an Tẩy giả trên bờ sông Gio- đan: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?”(Lc 3,10).

6. HỎI: Và Phê-rô đã trả lời như thế nào?

THƯA: Phê-rô dạy phải ‘hoán cải’ tức là từ bỏ con đường lầm lạc. Hoán cải trong ngôn ngữ Kinh Thánh có nghĩa là quay ngược lại con đường tội lỗi mình đang đi để trở về với Thiên Chúa. Một cách cụ thể là chịu phép Rửa nhân danh ‘Đức Ki-tô’: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội và lãnh nhận Thánh Thần” (Cv2,38).

7. HỎI: Ơn ban Thánh Thần là gì?

THƯA: Khi nói: “anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần”, Phê-rô khẳng định với người Do thái rằng lời hứa tiên tri Gio-ên cho thời sau hết đã được thực hiện: “Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người phàm”(3, 1).

8. HỎI: Ai là ‘những người ở gần’, ai là ‘những người ở xa’ (c. 39)?

THƯA: Những người ở gần là dân Do thái, vì họ là dân được tuyển chọn, là dân con, nhờ Giao Ước nên gần gủi với Thiên Chúa. Trái lại, các dân tộc khác ở ngoài Giao ước, xa lạ với Thiên Chúa, nên gọi là những kẻ ở xa. Tất cả sẽ được hưởng nhờ chương trình cứu độ của Thiên Chúa (x. Ep 2,13-14).

9. HỎI: Nội dung bài đọc 2 (1Pr 2,20-25) như thế nào?

THƯA: Thánh Phê-rô khuyên các tín hữu kiên tâm chụu đựng những đau khổ gian truân trong đời sống ki-tô theo gương Đức Ki-tô, Ngài là đấng vô tội nhưng đã nhận lấy tất cả trong cuộc khổ nạn để cứu độ nhân loại.

10. HỎI: Ngữ cảnh bài tin mừng (Ga 10,1-10) như thế nào?

THƯA: Đoạn tin mừng thuộc chương 10 tin mừng thánh Gio-an. Ở chương 9 đi trước, Gio-an kể truyện anh mù được chữa lành, bị người Do thái loại ra khỏi cộng đoàn nhưng được Đức Giê-su tiếp nhận. Trong khi đó người Do thái bị gọi là những kẻ tội lỗi, đui mù. Ở đây, khi tự mạc khải là mục tử nhân lành, là Cửa ràn chiên, Đức Giê-su cho thấy họ là những kẻ trộm cướp đến trước để trục lợi đàn chiên. Có 3 ý chính: 1) Ẩn dụ Cửa ràn chiên (10,1-5); 2) Phản ứng của người Do Thái (10,6); 3) Đức Giê-su giải thích ẩn dụ Cửa ràn chiên (10,7-10).

11. HỎI: Ràn chiên là gì?

THƯA: Ràn chiên là hình ảnh xa lạ đối với chúng ta nhưng lại rất quen thuộc với người Do thái. Đó là một khoảng đất rộng bên sườn đồi hoặc trước nhà, được rào lại bằng tường đá chung quanh để nhốt đàn chiên ban đêm khỏi thú dữ và trộm cướp.   

12. HỎI: Cựu Ước có nói gỉ về Mục tử và đàn chiên không?

THƯA: Có. Các tiên tri thường so sánh Thiên Chúa như Mục tử yêu mến và hết lòng chăm sóc đoàn chiên là dân của Người. Như Tiên tri I-sai-a nói: “Như bầy chiên, chúng sẽ được nuôi ăn trên các nẻo đường, sẽ gặp được đồng cỏ trên mọi đồi hoang” (Is 49,9).

13. HỎI: Các mục tử giả là ai?

THƯA: Các tiên tri cũng thường cảnh giác chống lại các mục tử xấu có hại cho đàn chiên. Đức Giê-su cũng theo đường hướng ấy, vừa nói về lòng yêu thương chăm sóc của mục tử đối với đàn chiên, vừa cảnh báo sự nguy hiểm trước những mục tử giả chỉ thường đến chỉ để trục lợi nơi đàn chiên mà thôi.

14. HỎI: Tại sao người Pha-ri-sêu không muốn hiểu điều Đức Giê-su nói về mục tử?

THƯA: Vì Đức Giê-su cho họ hiểu ra rằng chính Ngài là Mục tử tốt lành có thể mang lại hạnh phúc cho dân Ngài. Còn họ là những mục tử xấu. Dĩ nhiên họ không thể chấp nhận điều Đức Giê-su nói.

15. HỎI: Tại sao người Pha-ri-sêu không chấp nhận?

THƯA: Vì họ không thể tin rằng Đức Giê-su chính là Đấng Mê-si-a mà Thiên Chúa đã hứa ban và toàn dân Ít-ra-ên đang nóng lòng trông đợi.

16. HỎI: Tại sao Đức Giê-su nói Ngài là Cửa ràn chiên?

THƯA: Khi nói rằng: Ta là Cửa ràn chiên, Đức Giê-su cho biết rằng Ngài Đấng Mê-si-a, đấng cứu độ: dưới cánh tay Ngài dẫn dắt, đoàn chiên sẽ đến được sự sống đích thật. Ngài cũng đã dạy chính Ngài là đường dẫn đến sự thật và sự sống (Ga 14,6)

17. HỎI: Tiên tri Ê-dê-ki-ên đã nói gì về các mục tử lãnh đạo dân Ít-ra-ên?

THƯA: Tiên tri quả quyết rằng thay vì sống như những vị Đại diện Mục tử Tối cao trong công chính và yêu thương, họ là những Mục tử chỉ biết sống cho riêng mình mà không quan tâm gì đến đòan chiên. Vì thế, án xử của Thiên Chúa sẽ rất nghiêm khắc đối với họ (x. Ed 34, 1-31).

18. HỎI: Trong CƯ, chúng ta thấy có hình ảnh về Vua-Mục tử; điều ấy có đặc biệt đối với dân Híp-pri không?

THƯA: Không, hình ảnh Đấng Mục tử-Vua đã có từ xa xưa và nằm trong di sản văn chương của vùng Á đông. Tiên tri Giê-rê-mi-a áp dụng hình ảnh Vua-Mục tử cho Vua Ít-ra-ên để trách họ đã không làm tròn nhiệm vụ mà Thiên Chúa đã đòi hỏi (x. Gr 2,8; 10,21; 23,1-3). Vì thế, Thiên Chúa sẽ phái đến các mục tử mới để phục vụ dân Ngài trong sự công chính (x. Gr 3,15; 23,4). Ngòai ra, Tiên tri còn loan báo rằng trong các mục tử ấy, sẽ có một “Chồi non chính trực” là Đấng Mê-si-a (x. Gr 23,5-6).

19. HỎI: Tiên tri Ê-dê-ki-ên có khác với tiên tri Giê-rê-mi-a về điều ấy không?

THƯA: Không, thậm chí xét về cơ bản, ông còn lặp lại những gì mà tiên tri Giê-rê-mi-a đã nói. Sau nầy tiên tri Da-ca-ri-a cũng sẽ lặp lại trong chương 11 sách của ông. Tiên tri Ê-dê-ki-ên trách các mục tử, vua và lãnh đạo Ít-ra-ên về tội ác của họ: Chúa sẽ lấy lại đàn chiên mà họ đã chăn dắt không đúng cách vì Người là Mục tử độc nhất của đàn chiên (dân Ít-ra-ên). Rồi ông loan báo một Thần quyền sẽ xuất hiện. Trong thực tế, thần quyền được thiết lập khi dân từ nơi lưu đày trở về, khi không thể tái lập được nền quân chủ. Chỉ về sau Thiên Chúa sẽ ban cho dân Người một vị Mục tử, một quân vương, một Đa-vít mới.

20. HỎI: Tiên tri Ê-dê-ki-ên có nghĩ đến đấng Mê-si-a khi loan báo một Đa-vít mới sẽ xuất hiện không?

THƯA: Có, vị Tiên tri nói đến điều đó khi mô tả vương quốc của vị Quân vương và qua danh xưng Đa-vít mà vị tiên tri gán cho Ngài.

21. HỎI: Có phải Huấn quyền Giáo Hội cũng có một vai trò chăn dắt không?

THƯA: Đúng vậy, nhiệm vụ ấy phát sinh từ Giao Ước giữa Thiên Chúa và nhân lọai trong Đức Ki-tô.

22. HỎI: Tại sao Đức Ki-tô đã muốn rằng quyền Giáo huấn của Giáo Hội chia sẻ quyền mục tử tối cao của Ngài?

THƯA: Bởi vì các ki tô hữu cần được gìn giữ khỏi những lệch lạc hay sai lầm về đức tin. Do đó, nhiệm vụ mục tử của Huấn quyền nhằm gìn giữ dân Thiên Chúa luôn được ở trong chân lí cứu độ. Để hoàn thành việc phục vụ đó, Đức Ki-tô đã ban cho (các) vị Mục tử ơn đặc biệt không sai lầm về đức tin và luân lí. (GLCG s. 887).

23. HỎI: Trong lời rao giảng thánh Phê-rô ám chỉ đến hình ảnh mục tử và đàn chiên của mình?

THƯA: Đúng, trong 1Pr 2,25, vị thủ lãnh các tông tồ quả quyết rằng nhân lọai, trước khi Đức Ki- tô đến, đã là đàn chiên lang thang; giờ họ đi theo Đức Ki-tô, thuộc thành phần đàn chiên mà Đức Giê-su là Mục tử  và là Giám mục, do đó họ không còn bơ vơ nữa.

24. HỎI: Nhiệm vụ “Mục tử” chỉ được thi hành bởi Nhóm Mười Hai tông đồ?

THƯA: Không, thực ra Tân Ước quả quyết rằng nhiệm vụ ấy đã được chuyển thông qua việc đặt tay cho những người được lựa chọn bởi chính các Tông đồ hoặc các môn đệ các tông đồ (x. 1 Tm 3,1; 2 Tm 1,6; Tt 1,5).

25. HỎI: Nhưng nhiệm vụ Mục tử có đồng nghĩa với nhiệm vụ Tư tế không? Nếu như thế thì toàn thể Giáo hội là một dân tộc tự tế và do đó, tất cả các tín hữu Ki tô là mục tử chăng?

THƯA: Đúng như thế, toàn thể Giáo hội của Đức Ki-tô tạo thành một dân tộc tư tế và do bí tích Rửa tội, được thông phần vào chức tư tế tối cao của Đức Ki-tô. Quyền năng ấy được định nghĩa là chức tư tế thông thường của các tín hữu và là nền tảng của chức tư tế thừa tác, chức vụ sau nầy nhằm phục vụ cho chức vụ trước. Chức tư tế thừa tác được trao ban qua Bí tích Truyền chức và thi hành chức năng phục vụ nhân danh Đức Ki-tô là đầu ở giữa cộng đòan.

26. HỎI: Để gọi các mục tử giả, Đức Giê-su dùng từ “tên trộm” không đủ sao mà còn phải dùng cả từ “tên cướp” (x. c 1) nữa?

THƯA: Sở dĩ Đức Giê-su nói mạnh như thế là muốn làm nổi bật hình ảnh xấu xa của tên trộm đàn chiên, đồng thời nhấn mạnh đến sự trầm trọng nơi hành vi của anh ta. Tên trộm là kẻ lén lấy cắp của cải người khác, còn tên cướp là kẻ cướp giật của cải người khác.

27. HỎI: Thánh Gio-an muốn nói gì khi nói rõ các hành vi của người mục tử?

THƯA: Để làm nổi bật hình ảnh người mục tử rất ân cần với đàn chiên: vì yêu mến đàn chiên nên Đức Giê-su đã thí mạng sống nhằm Cứu độ mọi người. Như người chăn chiên dẫn chiên ra ngòai, thì Ngài cũng dẫn những kẻ theo người trên Con Đường Sự Sống. Như người mục tử dẫn đầu dàn chiên, Đức Giê-su cũng dẫn đầu đi trước các tín hữu của Ngài để chuẩn bị cho mỗi người một chỗ trên Nước Chúa.

28. HỎI: Còn con chiên phải hành động ra sao?

THƯA: Các con chiên phải tỏ ra ngoan ngoản đi theo vị mục tử của mình vì nhận ra tiếng gọi của chủ chăn; Đức Giê-su mời gọi chúng ta hãy ngoan ngoãn vâng theo Ngài; ai vâng phục Thiên Chúa thì có lòng khiêm nhường. Với lòng khiêm nhường và vâng phục giáo huấn của Đức Ki-tô, chúng ta có thể lắng nghe và nhận ra tiếng gọi của Ngài giữa cảnh xô bồ của thế gian muốn nghi ngờ chân lí của Đức Giê-su Ki-tô mà Thánh Kinh và Thánh truyền đã truyền lại cho chúng ta.

GLCG 754 857. Thực thế, Hội thánh là “chuồng chiên” và Chúa Ki-tô là cửa vào duy nhất và cần thiết (x. Ga 10,1-10). Hội Thánh cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đã tiên báo Người là mục tử (x. Is 40,11; Ed 34,11-31). Tuy được các mục tử trần gian chăn dắt, những chiên ấy luôn được chính Chúa Ki-tô, mục tử nhân lành và thủ lãnh các mục tử, dẫn dắt và nuôi dưỡng (x. Ga 10,11; 1Pr 5,4). Người đã hiến mạng sống mình cho đàn chiên (x. Ga 10,11-15).

Phục vụ Lời ĐCV Xuân Lộc