Chúa Nhật 31 Thường Niên A - Hãy Học Với Ta, Vì Ta Hiền Lành Và Khiêm Nhượng

Muốn lợi dụng tôn giáo là cám dỗ thường xuyên đối với mọi ngừoi tín hữu. Thực là êm ái sống trong ý ngay lành khi âm thầm tự coi mình là Thiên Chúa, đó là sự kiêu căng của những người thường được gọi là “trí thức”. Thậm chí bằng những lời rất đạo đức, họ thường đè bẹp những người đơn sơ đói khát một đời sống thiêng liêng đích thực.

Sách tiên tri Ml 1, 14b — 2, 2b.8-10

Người do thái từ nơi lưu đày trở về đã hoàn thành việc tái thiết Đền thờ. Họ tiếp tục nền phụng tự, nhưng nó trở thành hình thức, các tư tế thì nguội lạnh, luân lí xã hội, sự trung tín trong đời sống hôn nhân bị coi là đã cổ hủ. Tiên tri Ma la ki đến để lay động đồng bào ông ra khỏi sự dửng dưng. Ông khẩn cầu họ hãy tìm lại lòng đạo đức đích thực và chiến đấu chống lại tinh thần tương đối chung quanh.

Thánh Vịnh 130

Người tín hữu đích thực không biết đến sự tự phụ, nhưng khiêm nhương như một đứa bé đơn sơ, hoàn toàn khác hẳn với tất cả những người chỉ biết tìm cách đánh bóng mình.

Thư 1 Têxalônica 1 Th 2, 7b-9.13

Vị tông đồ đích thực không có gì giống như người đè bẹp người khác bằng cách phán đóan và đòi hỏi của mình. Phao lô hoàn toàn dấn thân cho bổn phận một người tôi tớ. Ông tạ ơn Thiên Chúa đã nhìn thấy họ lớn lên trong Đức tin.

Tin mừng Mt 23:1-12

NGỮ CẢNH

Trước chương 23, Mt đưa ra một cái nhìn tổng quát về hoạt động của Chúa Giê su tại đền thờ Giêrusalem: Ngài giảng dạy ở đó như đấng đầy quyền uy. Thính giả của Ngài chia làm ba nhóm: các môn đồ làm thành một cộng đoàn chặt chẽ quanh Ngài; nhóm địch thủ thì âm mưu chống lại Ngài; còn dân chúng thì phấn khởi bảo vệ Ngài (21,33.46). Đoạn tin mừng của chúng ta thuộc về phần đầu của trang Tin mừng được gọi là diễn từ chống Biệt phái, mà trọng tâm là bảy lời trách cứ các thói xấu của họ (13-36), đi sau lời giáo huấn và khuyến thiện dành cho dân chúng và các môn đồ (2-12).

Có thể đọc theo cấu trúc như sau:

1. Nhập đề: (23,1)

2. Phần chính khai triển hai ý song đối:

3. về các kinh sư và người Pha ri sêu (2-7)

4. về các đám đông và môn đệ (8-12)

TÌM HIỂU

Bấy giờ Chúa Giê su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: Trong Tin mừng Nhất lãm Chúa Giê su không bao giờ ngỏ lời trực tiếp với người Biệt phái, nhưng với dân chúng và các môn đệ. Chi tiết ấy quan trọng, vì muốn cho thấy rằng Ngài tấn công chính giáo thuyết biệt phái, nhưng đứng trung gian giữa dân và nhóm thủ lãnh để giải thoát dân khỏi ách nặng nề tinh thần nệ luật mà các thủ lãnh đặt trên vai họ. Chính việc chống đối nầy đã đưa Ngài đến chỗ chết. Đối với các thủ lãnh, Ngài là một địch thủ trực tiếp chống lại toàn thể Dân Thiên Chúa. Tin mừng Mát thêu nhấn mạnh đến điểm nầy để giải thích cho các ki tô hữu biết tại sao Chúa Giê su bị đẩy vào chổ chết do chính những người Biệt phái là những người điều khiển Hội đường vào thời của ngài.

Ngồi trên toà Moisê: Chúa Giê su không hề tấn công cơ chế giáo sĩ hay kí lục, nhưng chỉ nhắm vào những thói xấu của họ. Toà ở đây là ghế dành cho các giáo sĩ, những người tiếp nối Mô sê, có nhiệm vụ giải thích và áp dụng lề luật. Họ ngồi trên tòa khi thi hành chức năng giảng dậy. Nghĩa rộng chỉ chức năng giảng dạy.

Họ nói mà không làm: Điều trước tiên mà Chúa Giê su trách cứ nơi người Biệt phái là thái độ bất nhất của họ. Giáo huấn họ dạy có giá trị, nhưng chính họ lại không trung thành. Họ có quyền giảng dạy dân, và điều họ dạy không sai lầm.

Những việc họ làm: Từ nầy ở số nhiều chỉ toàn bộ tác phong của người Biệt phái. Cuộc sống của người Biệt phái và Kí lục không phải là gương mẫu cho đoàn chiên. Dĩ nhiên đây là chân dung tập thể, chứ không phải của một cá nhân nào.

Họ bó những gánh nặng: “Gánh nặng” mà người Biệt phái chất lên vai người tín hữu nói đến ở đây đối lại với “gánh nhẹ nhàng” của Chúa Giê su, vị thầy khiêm nhu (11,30). “Gánh” gợi lên hình ảnh một tên nô lệ bị đè bẹp dưới gánh nặng mà anh ta phải vác một mình. Động từ “” theo nghĩa bóng qui chiếu đến những trói buộc lương tâm theo cách giải thích Thánh Kinh của Biệt phái. Ý định xấu xa của họ bị vạch trần: đối với mình thì khoan dung, dễ dàng, còn đối với người khác thì nghiêm khắc, đòi hỏi.

Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy: Nết xấu thứ hai là tính phô trương, muốn mọi sự qui về cho bản thân mình.

Hộp kinh (= thủ phù): Đây là những hộp nhỏ hình vuông bằng da thuộc hoặc da bò đựng những miếng da mỏng, trên đó có chép 4 bản văn Kinh Thánh quan trọng đối với người Do thái (Đnl 11,13-22; 6,4-9; Xh 13,11-16; Xh 13,2-10). Đây là cách giúp người Do thái luôn luôn ghi nhớ Lề luật Thiên Chúa và lời cam kết tuân theo Luật đó. Ngoài ra, theo qui định của Lề luật, người ta cũng ghi lời Chúa trong các tua áo, để mang theo bên mình và thực hành. Chúa Giê su không khiển trách việc tốt lành nầy, Ngài chỉ phê bình thói phô trương. Bản văn nầy ám chỉ đến một thói quen của một số người do thái quá sùng đạo mang thủ phù cả ngày và nới rộng các giải kinh để người khác dễ thấy.

Chiếm ghế đầu trong hội đường: Các chỗ ngồi được nói ở đây đâu lưng lại với tráp chứa đựng các cuộn sách Lề luật và quay mặt về phía dân chúng.

Ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng: Theo qui luật của các giáo sĩ, “người ta phải bái chào kẻ trổi vượt hơn mình về kiến thức Lề Luật”, do đó ưa được bái chào là ưa được nhìn nhận như là trổi trang hơn người khác.

Rabbi: “Rab” (= lớn), vào thời Chúa Giê su có nghĩa là “chúa”. Thêm vào tiếp vĩ ngữ chỉ ngôi thứ nhất: Rabbi: chúa tôi. Dần dần từ nầy trở thành tên gọi chỉ một chức vụ áp dụng cho các thầy dạy tôn giáo và các nhà chuyên môn nổi tiếng về Lề luật.

Phần anh em: Chúa Giê su nói với các môn đệ và qua họ, với những người hướng dẫn các cộng đoàn ki tô hữu. Các câu nầy có thể được coi là bổ túc cho “bảng hướng dẫn về đời sống tu đức và mục vụ” của chương 18. Trọng tâm không nhằm vào việc bài bác hay cấm đoán mọi phẩm trật trong Giáo hội, nhưng nhắm đến sự tự hào không đúng chỗ của các rabbi: các ngươi đừng muốn người ta coi mình là thầy, đừng tự đặt mình là thầy giữa các ngươi, vì “Thầy của các ngươi chỉ có một”, và không ai khác hơn là Chúa Ki tô (Ga 13,13-14).

Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất nầy là cha của anh em: Lời dạy nầy không nhằm lên án thói quen tốt lành trong các cộng đoàn ki tô giáo, theo đó người ta quen dùng cách gọi “Cha” dưới nhiều hình thức. Đúng hơn, giáo huấn ấy muốn cảnh giác mối nguy cơ chiếm lấy danh dự là Cha, là Thầy của Thiên Chúa và Đức Ky tô, đồng thời đề cao nguyên tắc của người lãnh đạo cộng đoàn: phải cho thấy sự hiện diện của Đấng duy nhất và đồng thời là tấm màn trong suốt không che khuất Ngài.

Ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên: Ý tưởng hạ mình cần phải được giải thích theo ý tưởng phục vụ ở câu trước. Câu nầy vừa có tính cách truyền lệnh (c11), vừa có tính cách cánh chung (c.12): các ngươi phải làm điều đó, và Thiên Chúa sẽ trả lại cho các ngươi vào ngày Chung thẩm.

SỨ ĐIỆP

Bài tin mừng hôm nay kể lại những lời cứng cỏi của Chúa Giê su tố cáo điều mà người ta có thể gọi là “những cạm bẫy của quyền bính”.

Cạm bẫy thứ nhất: “Họ nói mà không làm”. Các kí lục và người Pha-ri-sêu rất giỏi khi nói về lề luật. Họ rất đòi hỏi đối với người khác, nhưng đời sống của họ không hòa hợp một chút nào với lời họ nói. Đó là một cảnh báo rõ ràng và là một cảnh giác mạnh mẽ cho những ai có sứ mang loan báo tin mừng, giám mục, linh mục, các Giáo lí viên và tất cả những nhà giáo dục đức tin.

Cạm bẫy thứ hai: Thi hành quyền bình bằng cách thống trị chứ không phục vụ. Cám dỗ thật lớn đối với những người dùng tiền của, học thức và quyền lực để chế ngự người khác và để áp đặt quyền hành của mình. Lời cảnh giác đó cũng có giá trị cho mỗi người chúng ta. Chúng ta đừng quên rằng tất cả những gì mà chúng ta đã lãnh nhận đều được trao phó cho chúng ta với một trách nhiệm phục vụ mọi người.

Cạm bẫy thứ ba đó là cám dỗ đánh bóng mình, hành động để cho mọi người thấy, lôi kéo mọi người khác chú ý và ngưỡng mộ mình. Thay vì nói về Thiên Chúa và tin mừng của Ngài, chúng ta nói về chúng ta, chúng ta qui mọi sự về chúng ta. Giống như một vị giáo sự lịch sử chỉ nói về mình thay vì về môn học mà mình phải dạy. Chúng ta là những người Ki tô hữu, chính Lời Thiên Chúa mà chúng ta phải làm chứng. Nước Trời hiện diện và chúng ta phải loan báo.

Cạm bẫy thứ tư, đó là cám dỗ tin rằng mình là người quan trọng nhất, tìm kiếm hư danh, những chỗ nhất, những hạng nhất. Bấy giờ Chúa Giê su muốn nhắc cho chúng ta nhớ các giá trị của đức khiêm nhường. Các tước hiệu và danh dự tự bản chất không xấu. Nhưng mang lấy những tước hiệu luôn bao hàm một trách nhiệm, một chứng từ phải thực hiện, một sứ mạng phục vụ người khác. Chúng ta không ở trên họ, những với họ để là những chứng nhân cho đấng là Tình yêu. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ phải trả lẽ cho sứ mạng ấy.

Nếu chúng ta muốn đón nhận Tin Mừng và làm chứng, đời sống chúng ta ăn khớp với những gì chúng ta tin. Chúa Giê su không thích kiểu chơi hai mặt hay giả hình. Chắc hẳn không ai có thể khẳng định rằng lời mình nói hoàn tòan ăn khớp với hành động của mình. Chúng ta có thể có những lời nói rất hay đẹp về tình yêu, về sự chia sẻ và về sự liên đới nhưng thực tế lại là những người ích kỉ số một, và có thể buông ra những lời xúc phạm và gây thiệt hại anh em mình. Nếu Chúa Giê su tố cáo những cách hành động ấy, không phải để lên án chúng ta mà để mời gọi chúng ta hãy biến đổi cuộc sống của mình.

Chúng ta sống trong một thế giới quan sát nhiều các người ki tô hữu. Nhiều người lấy làm thích thú chỉ tìm xem những điều xấu, các nhà thờ trống rỗng, sự giảm sút việc giữ đạo và nhất làm gương xấu. Luôn dễ dàng trách những ki tô hữu đã không tốt hơn những người khác. Nhưng những người khẳng định điều đó quên rằng cũng có nơi người Ki tô hữu sống trong tình liên đới, và rộng tay đóng góp phục vụ người nghèo.

Ngày nay, Đức Ki tô mời gọi chúng ta tiến thêm một bước nữa. Thỉnh thoảng bố thí giúp đỡ người nghèo là điều tốt, nhưng quan tâm đến người khác, kính trọng họ và gặp gỡ họ trong điều kiện họ đang sống, thì tốt hơn. Chính nhờ đó mà người ta sống tình liên đới đích thật. Chủ nhật tuần trước, tin mừng mời gọi chúng ta yêu mến như Chúa Giê su. Đó là một lời mời gọi đi vào trong dòng chảy tình yêu nối liền chúng ta với Thiên Chúa và với người khác. Sứ điệp ấy trước tiên phải biến đổi người loan báo nếu không đó sẽ là một phản chứng.

Cám dỗ thật lớn khi muốn làm cho đức tin vào Đức Ki tô trở nên nặng nề và phức tạp và lên mặt đòi hỏi đối với người khác. Chúng ta phải để ý đến những người đơn sơ, những người sống những hoàn cảnh phức tạp, nếu không họ sẽ thất vọng. Đừng quên rằng tin mừng chính là tin vui loan báo cho những người nghèo, đó là một sứ điệp giai phóng.

Các lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giê su đã tự biến thành quan án. Ngày nay, Chúa Giê su cũng nhắc cho chúng ta rằng chúng ta không phải là kẻ xét xử người khác nhưng là anh em. Vấn đề không phải là chế ngự, mà là phục vụ với tất cả lòng thành thực. Đức Ki tô đã muốn rằng người lớn nhất phải là người phục vụ. Chỉ với điều kiện đó, chứng từ của người ki tô mới có thể mang lại hoa trái. Nếu chúng ta muốn làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, thì chứng từ đó phải ăn khớp với điều mà chúng ta sống gần những người chung quanh chúng ta.

Từ công đồng Vatican II, người giáo dân đảm nhận một phần tích cực trong đời sống Giáo hội, và điều đó rất đúng. Nó đòi buộc chúng ta duyệt xét lại những tương quan của chúng ta giữa linh mục và giáo dân, và làm cho bầu khí sống chung trở nên huynh đệ hơn. Chính tình huynh đệ đó sẽ cấu trúc chúng ta như là cộng đoàn. Ba lần Chúa Giê su đòi chúng ta đừng gán cho mình những tước hiệu: “Đừng để người ta gọi mình là thầy dạy, hay chủ, hay Cha”. Đó là cách nói rằng chúng ta tất cả là anh em và ngang hàng với nhau.

Tất cả chúng ta là con cái của cùng một Cha. Do đó, Tin mừng ấy thúc đẩy chúng ta đặt lại vấn đề. Nhưng Chúa không phải là một quan án tìm cách bắt bẻ chúng ta. Như các môn đệ làng Em mau, Ngài là bạn đồng hành và cùng chung đường với chúng ta. Không có gì có thể tách chúng ta xa rời tình yêu của Ngài.

ĐÀO SÂU

LÃNH ĐẠO LÀ PHỤC VỤ

Ml 1,14 .2,2 .8-10 Thiên Chúa khiển trách các tư tế đền thờ vì sự bất trung của họ

Tv 131,1 Lạy Chúa, xin cho linh hồn con được bình an bên Chúa

1Tx 2,7-13 Thánh Phao-lô và cộng đoàn

Mt 23,1-12 Đức Giê-su trách nhóm Kinh sư và Pha-ri-sêu

 

1. HỎI: Các bài đọc được liên kết theo chủ đề gì?

THƯA: LÃNH ĐẠO LÀ PHỤC VỤ. Như Thiên Chúa đã khiển trách các tư tế đền thờ không phục vụ dân Chúa (Bđ1), Đức Giê-su cũng đã phê bình nhóm Kinh sư và Pha-ri-sêu vì đã sao lãng nhiệm vụ của mình (BTM). 

2. HỎI: Tiên tri Ma-la-ki là ai?

THƯA: Sách Ma-la-ki là một trong những quyển sách cuối cùng của Cựu Ước. Tên gọi Ma-la-ki có nghĩa là “Người được sai đi”. Trong thực tế thì đó là một tiên tri vô danh thi hành sứ vụ sau khi dân trở về từ Lưu đày Ba-by-lon vào khoảng năm 480-460.

3. HỎI: Nội dung bài đọc một (Ml 1,14 .2,2 .8-10) như thế nào?

THƯA: Bài đọc một ghi lại những lời sấm tiên tri nói thay Thiên Chúa để chống lại các tư tế đương thời. Người trách các tư tế đền thờ đã thi hành một lối thờ phượng hoàn toàn hình thức và không tuân giữ Lề luật và Giao ước của Người.

4. HỎI: “Kính sợ Thiên Chúa” có nghĩa gì?

THƯA: Lòng “kính sợ Thiên Chúa” không có nghĩa là sợ hãi khi ra trước nhan Thiên Chúa. Trái lại, nó diễn tả lòng tôn kính và tin tưởng của người tín hữu cảm thấy mình nhỏ bé và yếu đuối trước nhan Thiên Chúa

5. HỎI: Tiên tri Ma-la-ki nhắc lại điều gì?

THƯA: Trước tiên, tiên tri gợi lại tình yêu Thiên Chúa: “Ta yêu mến các người” (Ml 1,6). Và trên nền tảng yêu thương đó, tiên tri nhắc lại cho các tư tế và dân nhớ lại và thực thi những đòi hỏi phải có vì lòng tín trung với tình yêu Thiên Chúa. Tư Tế là thì phải trung thành loan báo Lời Chúa. Còn các tín hữu thì phải trung thành với tình yêu Thiên Chúa bằng cách yêu thương nhau.

6. HỎI: “Ta là Đức Vua cao cả (= Đại Vương)” (Ml 1,14) có nghĩa gì?

THƯA:Đại Vương’ là tước hiệu mà các vua Át-si-ri tự xưng trong những giờ phút vinh quang. Đó cũng là tước hiệu mà các tư tế dủng trong các Thánh Vịnh để hằng ngày tôn vinh Thiên Chúa. Tiếc thay đời sống của họ không đi đôi với lời cầu nguyện: họ đã sống bất trung với Thiên Chúa đã hết lòng yêu thương họ.

7. HỎI: Các tư tế bất trung về điều gì?

THƯA: Về hai điểm: họ không sám hối nên lời cầu nguyện của họ chỉ mang đến lời chúc dữ (cc 1-2) và bỏ bê việc giảng dạy đúng đường lối của Thiên Chúa. Và như thế họ tỏ ra bất trung với Giao Ước với Lê-vi (Ds 25,10-13).

8. HỎI: Còn các tín hữu?

THƯA: Tiên tri trách những người đàn ông vì họ đã phản bội vợ của mình khi rẫy vợ (c.10). Ông còn lên án những người đã cưới vợ ngoại giáo vì như thế họ phản bội Giao Ước với Thiên Chúa (c.11).

9. HỎI: Nội dung bài đọc hai (1Tx 2,7-13) như thế nào?

THƯA: Thánh Phao-lô bày tỏ tâm tình yêu thương và tận tụy của Ngài đối với đàn chiên Tê-xa-lô-ni-ca.

10. HỎI: Ngữ cảnh bài tin mừng (Mt 23,1-12) như thế nào?

THƯA: Bài tin mừng thuộc phần đầu chương 23 sách tin mừng Mát-thêu, thường được gọi là ‘Diễn từ chống Pha-ri-sêu’. Diễn từ nầy qui tụ các lời Đức Giê-su phê phán các nết xấu của người Pha-ri-sêu. Tuy nhiên, phần đầu (2-12) là những lời giảng dạy và khuyến thiện nói với đám đông và các môn đệ cảnh giác họ đề phòng lối sống không ăn khớp với lời giảng dạy của người Pha ri sêu. Có hai ý chính: Sau câu dẫn nhập (c. 1): 1. Chúa Giêsu nói về nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư (cc. 2-7); 2. Chúa Giêsu dạy cách hành xử cho các môn đệ của Người (cc. 8-12).

11. HỎI: Nội dung bài tin mừng như thế nào?

THƯA: Trong bài tin mừng Đức Giê-su nói đến “những cạm bẫy cho những kẻ quyền thế” hay “những lời khuyên cho giới hữu trách” mà bậc cha mẹ, những nhà lãnh đạo tôn giáo, hay chính trị thường gặp.

12. HỎI: Đâu là những cạm bẫy cho quyền thế?

THƯA: Cạm bẫy thứ nhất là “Họ nói mà không làm”. Cạm bẫy thứ hai “Thi hành quyền thế như cai trị chứ không như phục vụ”. Cạm bẫy thứ ba: “Muốn phô trương”. Cạm bẫy thứ tư: “Cho mình là quan trọng”.

13. HỎI: Đức Giê-su dạy gì về cạm bẫy thứ nhất?

THƯA: Đức Giê-su cho biết cảm bẫy thứ nhất là “Họ nói mà không làm”. Đó là sự sai lầm thường gặp đến nỗi Đức Giê-su cảnh giác các môn đệ: “Không phải người nói với Thầy, lạy Chúa lạy Chúa mà được vào Nước trời đâu, nhưng phải thi hành ý muốn của Cha Thầy đấng ngự trên trời” (Mt 7,21).

14. HỎI: Cạm bẫy thứ hai là gì?

THƯA: Cạm bẫy thứ hai là “Thi hành quyền thế như cai trị chứ không như phục vụ”: “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta., nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào”. Của cải, kiến thức, quyền bính thường là cái cớ khiến cho nhiều người chế ngự người khác. Trong khi chúng lại là những phương tiện để phục vụ người khác. 

15. HỎI: Cạm bẫy thứ ba là gì?

THƯA: Cạm bẫy thứ ba là khoe khoang: “Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy”. Đây là cạm bẫy nhiều người mắc phải, vì ai lại không muốn khoe mình, thích người khác kính trọng mình. Nhưng điều quan trọng không phải là danh tiếng mình đạt được mà là Lời Chúa được rao giảng.

16. HỎI: Cạm bẫy thứ tư là gì?

THƯA: Cạm bẫy thứ tư là tự cho mình quan trọng, thích được vinh quang. “Họ ưa ngồi chỗ danh tự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đàu trong hội đường”. Dĩ nhiên, tước hiệu có giá trị, nhưng giá trị mà người mang biểu hiện mới quan trong.

17. HỎI: Tại sao: “Đừng để ai gọi mình là ráp-bi (=Thầy)”?

THƯA: Vì “anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau” (23,8). Là anh em với nhau vì biết mình nghèo, luôn cần đến Thiên Chúa và người khác, luôn tùy thuộc vào tình yêu thương của Ngài. Không ai là Thầy bởi vì chúng ta không có gì để dạy dỗ người khác ngoài sự nghèo khó của chúng ta.

18. HỎI: Tại sao: “Đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em”?

THƯA: Chúng ta vẫn có thể tiếp tục dùng tước hiệu ‘Cha’ hoặc ‘Thầy’, nhưng gán cho chúng ý nghĩa đích thực. Người mang danh hiệu ấy phải là người nhắc nhớ chúng ta rằng chỉ có Cha duy nhất là đấng ngự trên trời.

19. HỎI: Đức Giê-su muốn dạy gì khi nói: “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”?

THƯA: Đức Giê-su không dạy các môn đồ của Ngài phải coi việc hạ mình như là mục tiêu sống. Điều Ngài muốn dạy là phải nhìn nhận mình nhỏ bé thấp hèn nên phải luôn cậy dựa vào sức mạnh và ơn sủng của Thiên Chúa.

20. HỎI: Sứ điệp Lời Chúa như thế nào?

THƯA: Tất cả là anh em với nhau”: một khi niềm xác tín này ăn sâu vào tâm hồn chúng ta thì không ai còn có thể cư xử tàn nhẫn đối với người khác, thậm chí đạo đức giả không thể nảy mầm. Điều cấp bách nhất và quan trọng nhất mà các Kitô hữu có thể làm là nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng các mối quan hệ của tình anh em: không thể thực hiện việc rao giảng Tin Mừng mà không có tiền đề này, và không thể đạt hiệu quả mà không có kết quả này. Và mọi thứ khác sẽ đến sau.

GLCG 526.“Trở nên trẻ nhỏ” trong tương quan với Thiên Chúa là điều kiện để vào Nứơc Trời (x.Mt l8,3-4). Muốn thế, cần phải tự hạ (x Mt 23,l2), phải trở nên bé mọn; hơn nữa, còn phải “sinh ra từ trên cao” (Ga 3,7) “do chính Thiên Chúa sinh ra” (Ga l,l3) để “trở nên con cái Thiên Chúa” (Ga l,l2). Mầu nhiệm Giáng Sinh được thực

 hiện nơi chúng ta khi Đức Ki-tô “thành hình” nơi chúng ta (Ga 4, l9). Giáng Sinh là mầu nhiệm của việc “trao đổi kỳ diệu” này. 460. Ôi việc trao đổi diệu kỳ! Đấng sáng tạo loài người, đã đoái thương sinh làm con một Trinh Nữ, đảm nhận một xác thể và một linh hồn, và đã ban cho chúng ta thiên tính của Người khi làm người mà không cần đến sự can thiệp của con người ! (Tiền xướng tuần bát nhật Giáng Sinh).

Phục Vụ Lời ĐCV Xuân Lộc